|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22-4-2024 V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thành Hiệp;
2. Ông Nguyễn Hoàng Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 14/2024/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/3/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Ngọc Y, sinh năm 1995 (có mặt);
Cư trú: Tổ 19, ấp H, xã H, huyện C, An Giang.
ĐCLL: Tổ 01, ấp P, xã V, huyện C, An Giang.
2. Bị đơn: Anh Trương Văn P, sinh năm 1988 (vắng mặt);
Cư trú: Tổ 19, ấp H, xã H, huyện C, An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Ngọc Y trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trương Văn P xây dựng hôn nhân do tự tìm hiểu, được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND xã H, C vào sổ số 79/2014, quyển số 01 ngày 02/6/2014. Sau khi cưới chị về làm dâu bên gia đình chồng được 01 năm thì vợ chồng ra cắt nhà ở riêng cũng gần nhà cha mẹ chồng. Quá trình chung sống hạnh phúc được thời gian gần 09 năm thì phát sinh mâu thuẫn, do anh P thường xuyên nhậu nhẹt kiếm chuyện chửi và đánh đập chị nhiều lần, anh P còn đánh bài, đá gà trên mạng, chơi số đề, chị khuyên anh P nhiều lần nhưng anh không thay đổi. Do vậy, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vì thương con chị phải nhẫn nhịn để dung hòa cuộc sống. Ngày gần đây vợ chồng thường xuyên cự cãi, không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 đến nay.
Cha mẹ hai bên có gặp nhau để hàn gắn, nhưng không được. Do tình cảm vợ chồng không còn, nếu tiếp tục sống chung cũng không hạnh phúc, nên yêu cầu ly hôn với anh Trương Văn P.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trương Thị Cẩm H, sinh ngày 09/03/2010. Hiện con chung đang sống với anh P. Sau khi ly hôn, chị đồng ý tiếp tục giao cháu Cẩm H cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Trương Văn P: Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến gia đình nhằm tạo điều kiện hòa giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người, nhưng anh P đều vắng mặt không lý do và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Y.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn: Chị Y vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án chấp nhận cho chị được ly hôn với anh P. Về con chung: giao cháu H cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh P: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Ngọc Y, giải quyết cho chị Y được ly hôn với anh Trương Văn P; về con chung: giao cháu Cẩm H cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, chị Y không cấp dưỡng nuôi con do anh P không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Y phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Huỳnh Thị Ngọc Y và anh Trương Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 02 tháng 6 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nên chị Y yêu cầu ly hôn với anh P. Anh P có hộ khẩu thường trú ở ấp H, xã H, huyện C, An Giang. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Trương Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vẫn vắng mặt. Việc vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Huỳnh Thị Ngọc Y xác nhận cuộc sống hôn nhân thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng chín năm, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị Y yêu cầu được ly hôn với anh P.
Xét thấy, cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị Y và anh P đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Tòa án tiến hành lấy lời khai của anh P theo quy định, nhưng không lấy được lời khai do anh P vắng mặt tại nhà. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh P đều vắng mặt, đồng thời không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng mà phía nguyên đơn chị Y đã trình bày, cũng như không có văn bản thể hiện ý kiến hay có nguyện vọng là muốn duy trì quan hệ hôn nhân với chị Y. Mặt khác, tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/3/2024 đối với bà Đào Ngọc L là mẹ ruột của anh P thể hiện: Hiện nay chị Y và anh P đã ly thân, cha mẹ hai bên đã cố gắng hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành, về quan hệ con chung phù hợp như lời trình bày của nguyên đơn. Bà L xác nhận phía anh P có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa, nhưng vì bận làm ăn nên không đến Tòa tham dự được, theo bà L thì giữa chị Y và anh P cũng không có khả năng đoàn tụ.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị Y và anh P đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Ngọc Y là được ly hôn với anh Trương Văn P.
[3] Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Huỳnh Thị Ngọc Y thừa nhận giữa chị và anh Trương Văn P có 01 con chung tên Trương Thị Cẩm H, sinh ngày 09/3/2010. Mặt khác, giấy khai sinh của cháu cũng đã thể hiện rõ điều này, do đó cần công nhận cháu Trương Thị Cẩm H, sinh ngày 09/3/2010 là con chung của chị Y và anh P. Hiện con đang sống với ba. Sau khi ly hôn, chị Y đồng ý giao cháu cho anh P được tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Mặt khác, tại bản tự khai ngày 04/3/2024, cháu H có nguyện vọng được sống với ba. Do đó, để ổn định tâm lý và đảm bảo phát triển cuộc sống của cháu, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Ngọc Y là giao cháu H cho anh P được tiếp tục nuôi dưỡng.
[4] Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Trương Văn P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.
Chị Huỳnh Thị Ngọc Y có quyền tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.
[5] Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí sơ thẩm: Do chị Huỳnh Thị Ngọc Y có yêu cầu ly hôn với anh Trương Văn P nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;
- - Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- - Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Huỳnh Thị Ngọc Y. Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Ngọc Y đối với anh Trương Văn P.
2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu Trương Thị Cẩm H, sinh ngày 09/3/2010 là con chung của chị Huỳnh Thị Ngọc Y và anh Trương Văn P;
- + Tiếp tục giao cháu Trương Thị Cẩm H, sinh ngày 09/3/2010 cho anh Trương Văn P được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (hiện cháu H đang sống chung với anh P); chị Ngọc Y không phải cấp dưỡng nuôi con do anh P không yêu cầu;
- + Anh Trương Văn P cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở chị Y trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
- + Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Ngọc Y phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004425 ngày 17/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang, được khấu trừ nên chị Y đã nộp xong.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Huỳnh Thị Ngọc Y được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Trương Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Hà Thị Mỹ Linh |
6
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Trần Thành Hiệp |
Nguyễn Hoàng Tiến |
Hà Thị Mỹ Linh |
Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Huỳnh Thị Ngọc Y. Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Ngọc Y đối với anh Trương Văn P. 2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu Trương Thị Cẩm H, sinh ngày 09/3/2010 là con chung của chị Huỳnh Thị Ngọc Y và anh Trương Văn P; + Tiếp tục giao cháu Trương Thị Cẩm H, sinh ngày 09/3/2010 cho anh Trương Văn P được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (hiện cháu H đang sống chung với anh P); chị Ngọc Y không phải cấp dưỡng nuôi con do anh P không yêu cầu; + Anh Trương Văn P cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở chị Y trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. + Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
