Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST

Ngày 14 tháng 8 năm 2023

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Duy Dân
  2. Bà Nguyễn Thị Đoan

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/QĐXX-ST ngày 13/7/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1988

Bị đơn: Anh Đinh Thế T1, sinh năm 1988

Cùng cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Chị T có mặt, anh T1 vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Phạm Thị T có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại phiên tòa như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Thế T1 tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 26/4/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã Q và lao động tự do. Quá trình chung sống đến tháng 5 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ly thân từ tháng 5/2021 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.

Về con chung: Chị T và anh T1 có 03 con chung là Đinh Thế Nhật M, sinh ngày 24/10/2012; Đinh Như Q, sinh ngày 06/7/2018; Đinh Thế Bảo N, sinh ngày 03/8/2022. Ly hôn Chị T đề nghị được nuôi con N; để anh T1 nuôi con M, con Q; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Hiện Chị T không có thai, Chị T đang làm tại công ty TNHH S thu nhập 01 tháng là 7.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản xác minh, biên bản hòa giải anh Đinh Thế T1 trình bày như sau: Anh xác định về thời gian, điều kiện hoàn cảnh kết hôn như chị Phạm Thị T đã trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Nay chi thu có đơn xin ly hôn thì anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không đồng ý ly hôn với Chị T. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Đinh Thế Nhật M, sinh ngày 24/10/2012; Đinh Như Q, sinh ngày 06/7/2018; Đinh Thế Bảo N, sinh ngày 03/8/2022. Nếu ly hôn xảy ra anh T1 đề nghị được nuôi con M, con Q; để Chị T nuôi con N; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Về tài sản chung anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai cháu Đinh Thế Nhật M trình bày: Cháu Đinh Thế Nhật M, sinh ngày 24/10/2012 là con đẻ của chị Phạm Thị T và anh Đinh Thế T1. Hiện cháu M đang học lớp 6A trường Trung học cơ sở xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Nếu Chị T, anh T1 hôn thì cháu M có nguyện vọng ở cùng anh Đinh Thế T1.

Tại biên bản xác minh với ông Nguyễn Văn T là trưởng thôn A, ông Đ cán bộ tư pháp xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:

Chị Phạm Thị T và anh Đinh Thế T1 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Q vào ngày 26/4/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã Q và lao động tự do. Quá trình chung sống thì vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào cơ sở thôn không nắm rõ. Hiện nay Chị T và anh T1 đã sống ly thân mỗi người một nơi. Nay Chị T có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị T và anh T1 có 03 con chung, ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng các bên. Về tài sản chung: Cơ sở thôn không nắm rõ.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là thể hiện chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Phạm Thị T và anh Đinh Thế T1 là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã Q, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T1 như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh T1 vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi dưỡng con chung và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của Chị T, anh T1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 26/4/2012 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2021 đến nay không hỏi han, chia sẻ với nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc Chị T đề nghị ly hôn nhưng anh T1 không đồng ý ly hôn và anh cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị T, anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị T, xử cho chị được ly hôn anh T1 là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Chị Phạm Thị T và anh Đinh Thế T1 có 03 con chung là Đinh Thế Nhật M, sinh ngày 24/10/2012; Đinh Như Q, sinh ngày 06/7/2018; Đinh Thế Bảo N, sinh ngày 03/8/2022. Ly thôn Chị T, anh T1 thống nhất Chị T nuôi con N; anh T1 nuôi con M, con Q; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Cháu M cũng có nguyện vọng được ở cùng anh T1. Xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của Chị T, anh T1 là chính đáng, Chị T, anh T1 có công việc, thu nhập ổn định. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi con Đinh Thế Bảo N, sinh ngày 03/8/2022; anh Đinh Thế T1 trực tiếp nuôi con Đinh Thế Nhật M, sinh ngày 24/10/2012; Đinh Như Q, sinh ngày 06/7/2018; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T, anh T1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị T, anh Đinh Thế T1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Đinh Thế T1.
  2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi con Đinh Thế Bảo N, sinh ngày 03/8/2022; anh Đinh Thế T1 trực tiếp nuôi con Đinh Thế Nhật M, sinh ngày 24/10/2012; Đinh Như Q, sinh ngày 06/7/2018; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T, anh T1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
  3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Phạm Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) Chị T đã nộp theo Biên lai thu số 0005831 ngày 10/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 14/8/2023). Anh Đinh Thế T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ;
  • - UBND xã Q, huyện Q;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Quốc Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2023/HNGĐ-ST ngày 14/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 58/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị T và anh T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger