Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI


Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày: 20-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Toại.

Thẩm phán: Bà Lê Thị Mỹ Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Đăng Thương.
  • Bà Huỳnh Thị Tuyết Nga.
  • Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Phùng Thanh Liễu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số: 142/2024/TB-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. NGUYỄN VĂN V, sinh ngày 14 tháng 4 năm 2001 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và con bà Vương Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 26/8/2021 bị Chủ tịch UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi sử dụng hung khí nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 07/QĐ-XPVPHC, đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/4/2023, đang giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.

2. PHẠM NGỌC HÙNG, sinh ngày 27 tháng 6 năm 2001 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc D và con bà Nguyễn Thị H1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 26/8/2021 bị Chủ tịch UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi sử dụng hung khí nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 07/QĐ-XPVPHC, đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/4/2023, đang tạm tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Nguyễn Văn V: Luật sư Trương Quang T1 – Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Số A đường N, tổ B, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Phạm Ngọc H2: Luật sư Võ Thị Thủy T2 – Công ty L1; địa chỉ: Số A đường P, phường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  1. Anh Phan Văn T3, sinh năm 2002; nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
  2. Anh Lê Văn T4, sinh năm 2002; nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Phạm Ngọc D, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976 (cha, mẹ đẻ của bị cáo H2); cùng nơi đăng ký thường trú: thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; Chỗ ở hiện nay: tổ dân phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; đều có mặt tại phiên tòa.
  2. Bà Vương Thị T, sinh năm 1980 (mẹ đẻ của bị cáo V); nơi cư trú: tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

  1. Anh Trần Quốc K, sinh năm 2002; nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
  2. Anh Nguyễn Huy H3, sinh năm 2003; nơi đăng ký thường trú: xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở: tổ dân phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
  3. Anh Nguyễn Tấn M, sinh năm 2003; nơi cư trú: tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 19/01/2023, anh Phan Văn T3, anh Lê Văn T4, anh Trần Quốc K, anh Nguyễn Tấn M và Nguyễn Huy H3 uống bia tại quán T5, thuộc tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Bị cáo Nguyễn Văn V và bị cáo Phạm Ngọc H2 cũng đang uống bia ở bàn gần bên tại quán T5. Lúc này, bị cáo Nguyễn Văn V, do quen biết từ trước với anh Nguyễn Huy H3 nên có qua bàn của H3 ngồi chơi và mời uống bia. Trong lúc nói chuyện thì giữa bị cáo V và anh Phan Văn T3 có xảy ra mâu thuẫn, cãi vã qua lại, nhưng được mọi người can ngăn. Đến khoảng 00 giờ 20 phút thì các anh T3, T4, K và M rời khỏi quán đi xuống hướng xã T, huyện T, riêng anh H3 thì đi về lên hướng thị trấn T. Khi các anh T3, T4, K và M đi về đến đoạn gần cây xăng thị trấn T thì dừng xe lại bên đường.

Khoảng 10 phút sau thì bị cáo V và bị cáo H2 cũng tính tiền và điều khiển xe đi về nhà V. Trên đường đi đến đoạn gần cây xăng thị trấn T, thấy nhóm của các anh T3, T4, K và M đang dừng xe bên đường thì bị cáo V và bị cáo H2 tấp xe vào rồi giữa hai bên sử dụng mũ bảo hiểm, chân tay đánh nhau qua lại. Trong lúc đánh nhau, bị cáo Vũ nhặt 01 đoạn cây gỗ keo ở lề đường đuổi đánh nhóm anh T3. Bị cáo H2 ôm vật nhau với anh T4 thì bị cáo H2 bị anh T4 siết cổ nên bị cáo H2 la “Cứu, cứu...” thì bị cáo Vũ t đến đánh anh T4 để hỗ trợ cho bị cáo H2. Bị cáo V

dùng cây đánh vào người anh T4. Anh Tú đưa tay trái lên đỡ, thì bị đánh trúng một cái vào phần cẳng tay khiến dẫn đến anh T4 bị gãy xương cẳng tay. Sau đó, anh T4 bỏ chạy về hướng thị trấn T. Bị cáo V tiếp tục cầm cây chạy bộ đuổi đánh những người còn lại, anh K điều khiển xe bỏ chạy về hướng xã T, anh T3 điều khiển xe chạy qua hướng xã T. Lúc này, bị cáo V ném đoạn cây gỗ keo xuống đường, tiếp tục nhặt một đoạn cây tre chạy bộ đuổi theo đánh anh T3. Thấy vậy, bị cáo H2 điều khiển xe mô tô biển số 76P1-095.67 đuổi theo anh T3, bị cáo H2 nói bị cáo V lên xe để chở đuổi ví theo anh T3. Khi vừa rẽ qua khỏi cây xăng khoảng 30m (hướng đi qua xã T) thì gặp anh T3 đang ngồi trên xe máy gọi điện thoại, thì bị cáo H2 tấp xe vào gần, bị cáo Vũ n xuống xe vung cây tre đánh 01 cái vào người anh T3 làm cho anh T3 và xe mô tô ngã ra lề đường. Bị cáo V tiếp tục dùng đoạn cây tre đánh nhiều cái vào người anh T3 thì đoạn cây tre bị gãy, bể. Liền lúc đó, bị cáo H2 cũng nhặt các đoạn tre bị gãy, bể đánh nhiều cái và dùng chân đá nhiều cái vào người anh T3. Bị đánh nên anh Tân b lại sát mép bờ taluy đường rồi lăn xuống rẫy keo. Sau đó, có người đến can ngăn nên bị cáo V và bị cáo H2 điều khiển xe đi về. Anh T3 bị nhiều vết thương trên cơ thể, được đưa đi cấp cứu ở Trung tâm y tế huyện T. Còn anh T4 khám và điều trị tại Bệnh viện Đ.

* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 32/TgT, ngày 07/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q, kết luận thương tích và tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Lê Văn T4 như sau:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

  • + Gãy 1/3 giữa xương trụ cẳng tay trái.
  • + Sẹo mổ cẳng tay trái kích thước (7,5 x 0,2)cm.

- Kết luận:

  • + Gãy 1/3 giữa xương trụ cẳng tay trái: 10%.
  • + Sẹo mổ cẳng tay trái: 1,80%;

Tổng tỷ lệ: 11,80%; làm tròn số = 12%; Tổn thương gãy xương trụ trái phù hợp vật tày gây thương tích, trừ sẹo mổ (Bút lục 231).

* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 184/KLTTCT-TTPY, ngày 23/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q, kết luận thương tích và tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Phan Văn T3 như sau:

- Các kết quả chính:

  • + 01 sẹo kích thước nhỏ vùng đỉnh bên phải, xếp: 01%;
  • + 01 sẹo kích thước nhỏ vùng đỉnh, chếch về bên phải, xếp: 01%;
  • + 01 sẹo kích thước nhỏ vùng trán bên phải đến đầu trong cung lông mày phải, ảnh hưởng đến thẩm mỹ, xếp: 03%;
  • + Vỡ xoang thành trước và sau xoang trán phải có lún sọ d # 23,7 x 7,5mm. Gãy thành trước xoang trán trái chiều dài đường nút d # 20,lmm, xếp: 20%;
  • + Gãy thành trước xoang hàm trái, xếp: 07%;
  • + Dập nhu mô não vùng trán phải. Hiện tại tình trạng dập nhu mô não vùng trán phải đã được tái hấp thu hoàn toàn không còn thấy trên hình ảnh CT Scanner sọ não (dựng hình 3D) chụp vào ngày 17/3/2023, xếp: 05%;
  • - Gãy xương chính mũi, xếp: 07%;
  • - 01 sẹo kích thước nhỏ bờ ngoài hốc mắt bên trái đến gò má trái, xếp: 01%;
  • - 01 sẹo kích thước nhỏ dưới ngoài hốc mắt phải, xếp: 01%.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Văn T3 tại thời điểm giám định là: 38,75%, làm tròn: 39%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư (Bút lục 299 - 301).

Về tạm giữ đồ vật, tài liệu: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ các đồ vật, tài liệu sau:

  • - 01 (một) đoạn cây gỗ tròn, dài 56 cm; 01 đầu cây được cắt bằng phẳng, 01 đầu cây nham nhở, mặt cắt ngang của đoạn cây hình tròn, đường kính 6,5 cm.
  • - 01 (một) đoạn cây gỗ dẹp, dài 74,5cm; bề mặt đoạn cây rộng 07cm, dày 03cm; 02 đầu đoạn cây nham nhở, 01 đầu có dấu vết dạng gãy, 01 đầu cây còn lại có đóng 02 cây đinh sắt.
  • - 05 (năm) đoạn thanh tre bị gãy, nứt, có kích thước khác nhau (01 đoạn dài nhất 40,5 cm, vị trí rộng nhất 2,3 cm, vị trí hẹp nhất 0,8 cm; 01 đoạn dài 29,5cm, rộng 2,5 cm; 01 đoạn dài 25 cm, rộng 1,5 cm; 01 đoạn dài 23 cm, rộng 1,5 cm; 01 đoạn dài 17,5 cm, rộng 1,5 cm).
  • - 01 (một) đoạn cây tre tròn, dài 89cm; mặt cắt ngang tiết diện hình tròn, đường kính ở vị trí to nhất 04 cm, ở vị trí nhỏ nhất 3,4 cm; 01 đầu cây tre nham nhở, 01 đầu còn lại có dấu hiệu bị gãy, nứt bể; vị trí bị khuyết do gãy, nứt bể so với phần còn lại của đoạn tre dài 38,5 cm, rộng 1,8cm.
  • - 01 (một) vỏ nhựa mũ bảo hiểm dạng nón sơn bị bể vỡ, màu trắng, quai mũ màu đen và 01 miếng xốp lót mũ bảo hiểm màu trắng, bị bể, vỡ.
  • - 01 vỏ nhựa mũ bảo hiểm dạng nón sơn, bề mặt bị trầy xước, màu xám, quai mũ màu đen và 01 tán mũ bảo hiểm màu đen bị tách rời.
  • - 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ, tán mũ và quai mũ màu đen; phía trước trên bề mặt mũ bảo hiểm có in dòng chữ “HOA SEN, GROUP, THƯƠNG HIỆU QUỐC GIA”; phía sau trên bề mặt mũ bảo hiểm có in dòng chữ “ỐNG NHỰA HOA SEN”, dẫn nguồn hạnh phúc, THƯƠNG HIỆU QUỐC GIA; mũ đã qua sử dụng.
  • - 04 (bốn) mảnh nhựa bể vỡ từ mũ bảo hiểm, màu đen, có kích thước khác nhau; trên 02 mãnh nhựa to nhất có quai mũ màu đen, có viềng bằng nhựa màu nâu và phần vải lót màu nâu và 01 miếng xốp của mũ bảo hiểm, màu trắng, có lót vải dạng lưới màu nâu.
  • - 01 xe mô tô biển kiểm soát 76P1-095.67, nhãn hiệu HONDA, loại WINNERX, màu đỏ bạc đen, số khung: RLHKC3701LY005219, số máy: KC34E1129510, đã qua sử dụng.

Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 09/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2 về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự và tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử như sau:

- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2 về tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích”.

- Về hình phạt.

  1. Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 07 đến 08 năm tù về tội “Giết người”.
  2. Áp dụng: điểm đ khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
  3. Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 09 năm đến 11 năm tù.
  4. Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H2 từ 06 đến 07 năm tù về tội “Giết người”.
  5. Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H2 từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích".
  6. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt của 02 tội là từ 07 năm 06 tháng đến 09 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự. Gia đình các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh Lê Văn T4 số tiền 25.000.000 đồng; bồi thường cho anh Phan Văn T3 số tiền 113.000.000 đồng. Các bị hại đã nhận đủ tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm và bãi nại về trách nhiệm dân sự nên không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy các tài liệu, đồ vật sau:

  • - 01 (một) đoạn cây gỗ tròn, dài 56 cm; 01 đầu cây được cắt bằng phẳng, 01 đầu cây nham nhở, mặt cắt ngang của đoạn cây hình tròn, đường kính 6,5 cm.
  • - 01 (một) đoạn cây gỗ dẹp, dài 74,5cm; bề mặt đoạn cây rộng 07cm, dày 03cm; 02 đầu đoạn cây nham nhở, 01 đầu có dấu vết dạng gãy, 01 đầu cây còn lại có đóng 02 cây đinh sắt.
  • - 05 (năm) đoạn thanh tre bị gãy, nứt, có kích thước khác nhau (01 đoạn dài nhất 40,5 cm, vị trí rộng nhất 2,3 cm, vị trí hẹp nhất 0,8 cm; 01 đoạn dài 29,5cm, rộng 2,5 cm; 01 đoạn dài 25 cm, rộng 1,5 cm; 01 đoạn dài 23 cm, rộng 1,5 cm; 01 đoạn dài 17,5 cm, rộng 1,5 cm).
  • - 01 (một) đoạn cây tre tròn, dài 89cm; mặt cắt ngang tiết diện hình tròn, đường kính ở vị trí to nhất 04 cm, ở vị trí nhỏ nhất 3,4 cm; 01 đầu cây tre nham nhở, 01 đầu còn lại có dấu hiệu bị gãy, nứt bể; vị trí bị khuyết do gãy, nứt bể so với phần còn lại của đoạn tre dài 38,5 cm, rộng 1,8cm.
  • - 01 (một) vỏ nhựa mũ bảo hiểm dạng nón sơn bị bể vỡ, màu trắng, quai mũ màu đen và 01 miếng xốp lót mũ bảo hiểm màu trắng, bị bể, vỡ.
  • - 01 vỏ nhựa mũ bảo hiểm dạng nón sơn, bề mặt bị trầy xước, màu xám, quai mũ màu đen và 01 tán mũ bảo hiểm màu đen bị tách rời.
  • - 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ, tán mũ và quai mũ màu đen; phía trước trên bề mặt mũ bảo hiểm có in dòng chữ “HOA SEN, GROUP, THƯƠNG HIỆU QUỐC GIA”; phía sau trên bề mặt mũ bảo hiểm có in dòng chữ “ỐNG NHỰA HOA SEN”, dẫn nguồn hạnh phúc, THƯƠNG HIỆU QUỐC GIA; mũ đã qua sử dụng.
  • - 04 (bốn) mảnh nhựa bể vỡ từ mũ bảo hiểm, màu đen, có kích thước khác nhau; trên 02 mãnh nhựa to nhất có quai mũ màu đen, có viềng bằng nhựa màu nâu và phần vải lót màu nâu và 01 miếng xốp của mũ bảo hiểm, màu trắng, có lót vải dạng lưới màu nâu.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 76P1-095.67, nhãn hiệu HONDA, loại WINNERX, màu đỏ bạc đen, số khung: RLHKC3701LY005219, số máy: KC34E1129510 do Phạm Ngọc H2 đứng tên đăng ký chủ sở hữu, chiếc xe này do Phạm Ngọc H2 điều khiển chở Nguyễn Văn V rượt đuổi theo bị hại Phan Văn T3 để thực hiện hành vi phạm tội “Giết người" nên chiếc xe này là phương tiện phạm tội, đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Lời bào chữa của Luật sư Trương Quang T1, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn V tại phiên tòa:

- Về tội danh: Thống nhất với Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình cùng với gia đình bị cáo H2 bồi thường xong cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với tội “Giết người”, bị cáo phạm tội chưa đạt nên đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự để xem xét xử bị cáo mức án không quá ¾ mức hình phạt mà điều luật quy định nhằm giảm nhẹ hình phạt hơn cho bị cáo.

- Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo V mức án thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời bào chữa của Luật sư Võ Thị Thủy T2, người bào chữa cho bị cáo Phạm Ngọc H2 tại phiên tòa:

- Về tội danh: Thống nhất với Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Phạm Ngọc H2 về tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc H2 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình cùng với gia đình bị cáo V bồi thường xong cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho 02 tội của bị cáo.

Đối với tội “Giết người", bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng trong khung hình phạt nhẹ hơn của điều luật. Bị cáo phạm tội chưa đạt nên đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự để xem xét xử bị cáo mức án không quá ¾ mức hình phạt mà điều luật quy định nhằm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với “Cố ý gây thương tích”, bị cáo không trực tiếp gây thương tích cho anh Lê Văn T4 mà chỉ thực hiện hành vi phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể. Bị cáo phạm tội lần đầu nên đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật để áp dụng hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

- Về hình phạt.

  • + Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 57; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo H2 mức án 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”.
  • + Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo H2 mức án 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích".
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 04 (bốn) năm tù.

Ý kiến của các bị hại: Xin giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho 02 bị cáo để sớm đoàn tụ gia đình.

Ý kiến của ông Phạm Ngọc D và bà Nguyễn Thị H1 (cha, mẹ đẻ của bị cáo H2): Xin Hội đồng xét xử xem xét cho gia đình nhận lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 76P1-095.67, nhãn hiệu HONDA, loại WINNERX. Mặc dù, chiếc xe này do bị cáo Phạm Ngọc H2 đứng tên chủ sở hữu nhưng nguồn tiền mua chiếc xe này của ông, bà. Bị cáo H2 sử dụng chiếc xe vào mục đích phạm tội thì ông, bà không biết nên mong muốn trả lại chiếc xe cho ông, bà để có phương tiện đi lại.

Ý kiến tranh luận của những người tham gia tố tụng khác: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện là hợp pháp.

[1.2] Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1.3] Tại phiên tòa, bị hại Lê Văn T4; người làm chứng Nguyễn Huy H3 và Nguyễn Tấn M đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố, đã được tóm tắt như nội dung vụ án nêu trên. Các bị cáo thống nhất với các bản kết luận giám định.

Lời khai của các bị cáo Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo, người làm chứng, những người tham gia tố tụng khác; các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Xuất phát từ mâu thuẫn giữa bị cáo Nguyễn Văn V với bị hại Phan Văn T3 tại quán nhậu trước đó. Sau khi nhậu xong, trên đường đi về, các bị cáo Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2 nhìn thấy nhóm bị hại Phan Văn T3, Lê Văn T4 đang đứng bên đường gần cây xăng thị trấn T, huyện T, thì các bị cáo liền tấp xe vào tiến đến đánh nhau và cùng rượt đuổi đánh nhóm bị hại Phan Văn T3, trong đó có bị hại Phan Văn T3 và bị hại Lê Văn T4. Khi nghe bị cáo H2 kêu cứu, bị cáo Nguyễn Văn V tiến đến hỗ trợ cho bị cáo H2 và đã dùng đoạn cây gỗ tròn làm hung khí đánh vào người bị hại Lê Văn T4, anh T4 dùng tay đỡ dẫn đến bị gãy 1/3 xương trụ cẳng tay trái. Sau đó, Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2 tiếp tục cùng nhau đuổi đánh bị hại Phan Văn T3; dùng đoạn cây tre đánh liên tiếp vào vùng đầu, mặt của bị hại Phan Văn T3 dẫn đến anh T3 bị đa chấn thương ở vùng đầu, mặt, trong đó có nhiều vết thương nguy hiểm là vùng trọng yếu ở vùng đầu của anh T3 gây ra vỡ xoang thành trước và sau xoang trán phải, lún sọ; gãy thành trước xoang trán trái; dập mô não vùng trán phải; gãy xương chính mũi...

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 32/TgT, ngày 07/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q, kết luận thương tích và tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Văn T4 như nêu ở trên tổng tỷ lệ: 11,80%, làm tròn số 12%; tổn thương gãy xương trụ trái phù hợp vật tày gây thương tích, trừ sẹo mổ.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 184/KLTTCT-TTPY, ngày 23/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q, kết luận thương tích và tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phan Văn T3 như nêu ở trên tại thời điểm giám định là: 38,75%, làm tròn 39% (áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22).

[2] Xét tính chất, vai trò và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của các bị cáo:

Các bị cáo Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trước đó giữa bị cáo V và anh T3 tại quán T5 ở thị trấn T, huyện T; đã được mọi người can ngăn và đi ra về. Trên đường đi về, khi gặp lại nhóm anh T3 đứng bên đường, các bị cáo đã thống nhất cùng nhau đuổi đánh, dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại Lê Văn T4 và dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích nguy hiểm đến tính mạng cho anh Phan Văn T3. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, không phân công nhiệm vụ, vai trò nhưng cùng thống nhất, tiếp nhận ý chí và cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội.

[2.1] Đối với hành vi gây thương tích cho bị hại Lê Văn T4: Khi bị cáo Phạm Ngọc H2 và bị hại Lê Văn T4 ôm vật, đánh nhau; bị cáo H2 bị anh T4 bóp cỗ thì bị cáo H2 kêu cứu. Bị cáo Nguyễn Văn V không can ngăn mà tiến đến giúp sức cho bị cáo H2 và nhặt đoạn cây gỗ tròn đánh vào người anh T4, anh T4 đưa tay lên đỡ dẫn đến bị gãy 1/3 xương trụ cẳng tay trái, tổn thương cơ thể 12% của anh Lê Văn T4 là do bị cáo Nguyễn Văn V gây ra. Bị cáo Phạm Ngọc H2 không trực tiếp gây thương tích cho anh T4 nhưng hành vi của bị cáo V nhằm mục đích giúp sức cho bị cáo H2 nên bị cáo H2 phải chịu trách nhiệm hình sự chung đối với hậu quả thương tích của anh T4. Các bị cáo Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2 đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, là người thực hành đối với hành vi gây thương tích cho anh Lê Văn T4.

[2.2] Đối với hành vi gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe cho bị hại Phan Văn T3: Sau khi gây thương tích cho anh Lê Văn T4. Mặc dù, anh Phan Văn T3 đã bỏ chạy nhưng các bị cáo Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2 tiếp tục cùng nhau dùng xe mô tô đuổi theo đánh anh T3, trong đó; bị cáo V dùng đoạn cây tre đánh liên tiếp vào vùng đầu, mặt của bị hại Phan Văn T3 làm cho đoạn cây tre bị bể, vỡ, gãy thành nhiều đoạn; bị cáo H2 nhặt đoạn cây tre bị mà bị cáo V đã sử dụng đánh anh T3 và tiếp tục đánh, đá nhiều cái vào vùng cơ thể anh T3. Hậu quả anh Phan Văn T3 bị đa chấn thương ở vùng đầu, mặt là do các bị cáo V và H2 trực tiếp gây ra, trong đó có nhiều vết thương nguy hiểm, nhất là các vết thương tại vùng trọng yếu cơ thể ở vùng đầu dẫn đến bị chấn thương sọ não gây vỡ xoang thành trước và sau xoang trán phải có lún sọ, gãy thành trước xoang trán trái; tỷ lệ thương tích 20%; dập mô não vùng trán phải, tỷ lệ thương tích 05%; gãy xương chính mũi, vẹo vách mũi sang phải, tỷ lệ thương tích 07%"..., các vết thương ở vùng trọng yếu cơ thể, nguy hiểm đến tính mạng của anh T3, có khả năng dẫn đến chết người, nếu không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong; hậu quả chết người chưa xảy ra là ngoài ý thức chủ quan của các bị cáo. Các bị cáo Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2 đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, đều là người thực hành đối với hành vi gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe cho anh Phan Văn T3.

[2.3] Hai hành vi phạm tội như trên của các bị cáo đều mang tính chất côn đồ, các bị cáo nhận thức được hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe cho người khác được pháp luật bảo vệ là vi phạm pháp luật nhưng xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố các bị cáo Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2 về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự và về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp theo điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:

[3.1] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đều tác động gia đình bồi thường xong cho bị hại và đều được 02 bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.3] Nhân thân: Ngày 26/8/2021, các bị cáo đều bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng hung khí nhằm mục đích gây thương tích cho người khác.

[4] Xét mức độ nguy hiểm cho xã hội và quyết định hình phạt: Xét thấy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2 là đặc biệt nghiêm trọng, vừa xâm hại đến sức khỏe, vừa xâm hại đến tính mạng của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần phải xử phạt nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, đối với hành vi giết người thì hậu quả chết người chưa xảy ra đối với anh Phan Văn T3, Hội đồng xét xử cần áp dụng quy định khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự để xem xét quyết định hình phạt tù không quá ¾ mức hình phạt tù mà điều luật quy định đối với trường hợp phạm tội chưa đạt cho các bị cáo nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Đánh giá vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, mức độ thực hiện ý định phạm tội đến cùng, hậu quả chết người chưa xảy ra đối với anh Phan Văn T3; mức độ tổn thương cơ thể của anh Lê Văn T4; các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của từng bị cáo để phân hóa quyết định hình phạt tương xứng với từng vai trò đồng phạm theo quy định tại Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét cần quyết định hình phạt nghiêm khắc hơn đối với bị cáo Nguyễn Văn V nhằm thể hiện tính công bằng của pháp luật.

Xét thấy, bị cáo Phạm Ngọc H2 thực hiện hành vi phạm tội ít nguy hiểm hơn cho xã hội và được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với tội “Cố ý gây thương tích” để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong khung hình phạt liền kề cho bị cáo H2 nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sớm hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Các bị cáo đều phạm 02 tội nên cần tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự. Tại giai đoạn điều tra, gia đình các bị cáo đã bồi thường xong thiệt hại cho bị hại Lê Văn T4 và Phan Văn T3. Anh Tú và anh T3 đều không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Đối với cha, mẹ đẻ của các bị cáo đã bồi thường thay cho các bị cáo. Các ông, bà không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường cho các bị hại nên không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

[7.1] Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm:

  • - 01 (một) đoạn cây gỗ tròn, dài 56 cm; 01 đầu cây được cắt bằng phẳng, 01 đầu cây nham nhở, mặt cắt ngang của đoạn cây hình tròn, đường kính 6,5 cm.
  • - 01 (một) đoạn cây gỗ dẹp, dài 74,5cm; bề mặt đoạn cây rộng 07cm, dày 03cm; 02 đầu đoạn cây nham nhở, 01 đầu có dấu vết dạng gãy, 01 đầu cây còn lại có đóng 02 cây đinh sắt.
  • - 05 (năm) đoạn thanh tre bị gãy, nứt, có kích thước khác nhau (01 đoạn dài nhất 40,5 cm, vị trí rộng nhất 2,3 cm, vị trí hẹp nhất 0,8 cm; 01 đoạn dài 29,5cm, rộng 2,5 cm; 01 đoạn dài 25 cm, rộng 1,5 cm; 01 đoạn dài 23 cm, rộng 1,5 cm; 01 đoạn dài 17,5 cm, rộng 1,5 cm).
  • - 01 (một) đoạn cây tre tròn, dài 89cm; mặt cắt ngang tiết diện hình tròn, đường kính ở vị trí to nhất 04 cm, ở vị trí nhỏ nhất 3,4 cm; 01 đầu cây tre nham nhở, 01 đầu còn lại có dấu hiệu bị gãy, nứt bể; vị trí bị khuyết do gãy, nứt bể so với phần còn lại của đoạn tre dài 38,5 cm, rộng 1,8cm.
  • - 01 (một) vỏ nhựa mũ bảo hiểm dạng nón sơn bị bể vỡ, màu trắng, quai mũ màu đen và 01 miếng xốp lót mũ bảo hiểm màu trắng, bị bể, vỡ.
  • - 01 vỏ nhựa mũ bảo hiểm dạng nón sơn, bề mặt bị trầy xước, màu xám, quai mũ màu đen và 01 tán mũ bảo hiểm màu đen bị tách rời.
  • - 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ, tán mũ và quai mũ màu đen; phía trước trên bề mặt mũ bảo hiểm có in dòng chữ “HOA SEN, GROUP, THƯƠNG HIỆU QUỐC GIA”; phía sau trên bề mặt mũ bảo hiểm có in dòng chữ “ỐNG NHỰA HOA SEN”, dẫn nguồn hạnh phúc, THƯƠNG HIỆU QUỐC GIA; mũ đã qua sử dụng.
  • - 04 (bốn) mảnh nhựa bể vỡ từ mũ bảo hiểm, màu đen, có kích thước khác nhau; trên 02 mãnh nhựa to nhất có quai mũ màu đen, có viềng bằng nhựa màu nâu và phần vải lót màu nâu và 01 miếng xốp của mũ bảo hiểm, màu trắng, có lót vải dạng lưới màu nâu.

vải dạng lưới màu nâu.

3.2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát 76P1 - 095.67, nhãn hiệu HONDA, loại WINNERX, màu đỏ bạc đen, số khung: RLHKC3701LY005219, số máy: KC34E1129510 do bị cáo Phạm Ngọc H2 đứng tên đăng ký chủ sở hữu.

Các vật chứng, đồ vật, tài sản nêu trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 03/6/2024 giữa Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.

3.3. Không chấp nhận yêu cầu, ý kiến của ông Phạm Ngọc D, bà Nguyễn Thị H1 và bị cáo Phạm Ngọc H2 về việc trả lại xe mô tô biển kiểm soát 76P1-095.67, nhãn hiệu HONDA, loại WINNERX cho bị cáo Phạm Ngọc H2.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/6/2024).

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2 phạm tội “Giết người” và phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1.1 Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; khoản 3 Điều 57; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 06 (sáu) năm tù về tội “Giết người”.

Áp dụng: điểm đ khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/4/2023.

1.2 Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 57; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H2 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H2 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích".

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Phạm Ngọc H2 phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 06 (sáu) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/4/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự. Các bị cáo và các bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong. Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

3.1. Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng, đồ vật sau:

  • - 01 (một) đoạn cây gỗ tròn, dài 56 cm; 01 đầu cây được cắt bằng phẳng, 01 đầu cây nham nhở, mặt cắt ngang của đoạn cây hình tròn, đường kính 6,5 cm.
  • - 01 (một) đoạn cây gỗ dẹp, dài 74,5cm; bề mặt đoạn cây rộng 07cm, dày 03cm; 02 đầu đoạn cây nham nhở, 01 đầu có dấu vết dạng gãy, 01 đầu cây còn lại có đóng 02 cây đinh sắt.
  • - 05 (năm) đoạn thanh tre bị gãy, nứt, có kích thước khác nhau (01 đoạn dài nhất 40,5 cm, vị trí rộng nhất 2,3 cm, vị trí hẹp nhất 0,8 cm; 01 đoạn dài 29,5cm, rộng 2,5 cm; 01 đoạn dài 25 cm, rộng 1,5 cm; 01 đoạn dài 23 cm, rộng 1,5 cm; 01 đoạn dài 17,5 cm, rộng 1,5 cm).
  • - 01 (một) đoạn cây tre tròn, dài 89cm; mặt cắt ngang tiết diện hình tròn, đường kính ở vị trí to nhất 04 cm, ở vị trí nhỏ nhất 3,4 cm; 01 đầu cây tre nham nhở, 01 đầu còn lại có dấu hiệu bị gãy, nứt bể; vị trí bị khuyết do gãy, nứt bể so với phần còn lại của đoạn tre dài 38,5 cm, rộng 1,8cm.
  • - 01 (một) vỏ nhựa mũ bảo hiểm dạng nón sơn bị bể vỡ, màu trắng, quai mũ màu đen và 01 miếng xốp lót mũ bảo hiểm màu trắng, bị bể, vỡ.
  • - 01 vỏ nhựa mũ bảo hiểm dạng nón sơn, bề mặt bị trầy xước, màu xám, quai mũ màu đen và 01 tán mũ bảo hiểm màu đen bị tách rời.
  • - 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ, tán mũ và quai mũ màu đen; phía trước trên bề mặt mũ bảo hiểm có in dòng chữ “HOA SEN, GROUP, THƯƠNG HIỆU QUỐC GIA”; phía sau trên bề mặt mũ bảo hiểm có in dòng chữ “ỐNG NHỰA HOA SEN”, dẫn nguồn hạnh phúc, THƯƠNG HIỆU QUỐC GIA; mũ đã qua sử dụng.
  • - 04 (bốn) mảnh nhựa bể vỡ từ mũ bảo hiểm, màu đen, có kích thước khác nhau; trên 02 mãnh nhựa to nhất có quai mũ màu đen, có viềng bằng nhựa màu nâu và phần vải lót màu nâu và 01 miếng xốp của mũ bảo hiểm, màu trắng, có lót vải dạng lưới màu nâu.

3.2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát 76P1 - 095.67, nhãn hiệu HONDA, loại WINNERX, màu đỏ bạc đen, số khung: RLHKC3701LY005219, số máy: KC34E1129510 do bị cáo Phạm Ngọc H2 đứng tên đăng ký chủ sở hữu.

Các vật chứng, đồ vật, tài sản nêu trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 03/6/2024 giữa Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.

3.3. Không chấp nhận yêu cầu, ý kiến của ông Phạm Ngọc D, bà Nguyễn Thị H1 và bị cáo Phạm Ngọc H2 về việc trả lại xe mô tô biển kiểm soát 76P1-095.67, nhãn hiệu HONDA, loại WINNERX cho bị cáo Phạm Ngọc H2.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn V và Phạm Ngọc H2, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/6/2024).

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quang Toại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự sơ thẩm về tội giết người và cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Giết người và Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger