TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HN-ST Ngày: 20/05/2024 V/v xin ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Yến Nhi
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh
Bà Trương Việt Trinh
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri – Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến– Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 05 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 418/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QÐST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1988 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Số B ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Tứ E, sinh năm 1983 (Vắng mặt);
Địa chỉ: ấp Á, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 9 năm 2023 và trong quá trình tố tụng sơ thẩm nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn Tứ E có đăng ký kết hôn năm vào ngày 26/01/2007 tại Ủy ban nhân dân xã T trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến đầu tháng 04/2023, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau dẫn đến rạn nứt tình cảm vợ chồng. Cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Hiện nay, chị và anh Tứ E đã sống ly thân. Quá trình chung sống 02 con chung tên Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 20/11/2006; Nguyễn Văn Chế L, sinh ngày 18/08/2008. Hiện cháu T1 đang sống chung với chị, cháu Chế L đang sống chung với anh Tứ E.
Chị yêu cầu tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Về hôn nhân: Chị Phạm Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tứ E.
Về con chung: Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi dưỡng Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 20/11/2006 và đề nghị anh Tứ E tiếp tục nuôi con chung Nguyễn Văn Chế L, sinh ngày 18/08/2008. Hai bên không cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
*Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đã tống đạt hợp lệ cho anh Nguyễn Văn Tử E các văn bản tố tụng nhưng anh Tử E vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử nên Tòa án không thu thập được lời khai của anh Nguyễn Văn Tứ E.
*Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri có ý kiến:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tứ E.
Về con chung: Chị Phạm Thị T nuôi dưỡng Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 20/11/2006, anh Nguyễn Văn Tứ E nuôi dưỡng Nguyễn Văn Chế L, sinh ngày 08/8/2008. Chị T và anh Tứ E không cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục: Chị Phạm Thị T vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu Tòa xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn Tứ E đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng anh vắng mặt không có lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị T, anh Tứ E là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Văn T2 Em kết hôn năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B vào ngày 26 tháng 01 năm 2007 nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Tứ E là hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 04 năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Hơn nữa, Tòa án đã tiến hành mời anh Tứ E để hòa giải nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Tứ E không đến dự. Điều đó cho thấy anh Tứ E không còn thiết tha đối với mối quan hệ hôn nhân với chị T, chứng tỏ hôn nhân giữa chị T và anh Tứ E đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn với anh Tứ E là có căn cứ, phù hợp. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị T.
[3]. Về con chung: Quá trình sống chung, chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Văn Tứ E có 02 con chung tên Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 20/11/2006 và Nguyễn Văn Chế L, sinh ngày 18/08/2008. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 20/11/2006 và đề nghị anh Tứ E nuôi dưỡng con chung Nguyễn Văn Chế L, sinh ngày 18/08/2008.
Xét thấy, cháu Nguyễn Thị Huyền T1 đang sống chung với chị Phạm Thị T, cháu Nguyễn Văn Chế L hiện sống chung với anh Nguyễn Văn Tứ E. Hiện nay, cháu Huyền T1, cháu Chế L đều đang có cuộc sống sinh hoạt, học tập ổn định. Đồng thời, cháu Huyền T1 có nguyện vọng được sống chung với mẹ Phạm Thị T, cháu Chế L có nguyện vọng sống chung với cha Nguyễn Văn Tứ E. Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh Tứ E vắng mặt không lý do, không cung cấp ý kiến phản đối về việc chị T yêu cầu nuôi con chung Nguyễn Thị Huyền T1 và đề nghị anh Tứ E tiếp tục nuôi con chung Nguyễn Văn Chế L. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích của con chung, căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 20/11/2006 cho chị Phạm Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Văn Chế L, sinh ngày 18/08/2008 cho anh Nguyễn Văn T2 Em tiếp tục nuôi dưỡng. Điều này là phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Phạm Thị T về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn Tứ E cấp dưỡng nuôi con chung.
[4]. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị T khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[5]. Về nợ chung: Chị Phạm Thị T khai không có nên nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[6]. Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri là cùng quan điểm nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7]. Về án phí hôn nhân sơ thẩm chị Phạm Thị T phải chịu theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 59, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 119 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Toà án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận cho chị Phạm Thị T ly hôn với anh Nguyễn Văn Tứ E.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 20/11/2006 cho chị Phạm Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Văn Chế L, sinh ngày 18/08/2008 cho anh Nguyễn Văn T2 Em tiếp tục nuôi dưỡng. Điều này là phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh Tứ E cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị T khai không có nên Tòa không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị Phạm Thị T khai không có khai không có nên Hội đồng không xem xét.
5. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn nhưng chị T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001356 ngày 25/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, án phí vụ kiện chị T đã nộp xong.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hồ Thị Yến Nhi |
Bản án số 58/2024/HN-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 58/2024/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận cho chị Phạm Thị T ly hôn với anh Nguyễn Văn Tứ E. 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 20/11/2006 cho chị Phạm Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Văn Chế L, sinh ngày 18/08/2008 cho anh Nguyễn Văn T2 Em tiếp tục nuôi dưỡng. Điều này là phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh Tứ E cấp dưỡng nuôi con. 3. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị T khai không có nên Tòa không xem xét giải quyết. 4. Về nợ chung: Chị Phạm Thị T khai không có khai không có nên Hội đồng không xem xét.