|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2024/DS-PT Ngày: 19-8-2024 “Tranh chấp quyền sử dụng đất và ngôi mộ dòng họ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Toàn.
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Thu Huyền và ông Bùi Xuân Trường.
Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Hà Thu - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và ngôi mộ dòng họ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXPT-DS ngày 08 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa, Quyết định hoãn phiên tòa, Quyết định ngừng phiên tòa và mở lại phiên tòa của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1950.
Địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Có mặt
Người đại diện theo ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh L: Ông Phùng Nguyễn H, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ 8b, khu B, Phường V, TP V, tỉnh Phú Thọ. Có mặt
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1942.
Địa chỉ: Khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1973.
- Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1979 .
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984.
Đều có địa chỉ: Khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Anh Q, anh T1 có mặt; chị T xin xét xử vắng mặt.
- Đặng Thị L1, sinh năm 1954. Địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Xin xét xử vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1932. Địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1946. Địa chỉ: Ấp P, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
- Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1949. Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Nguyễn Văn C1 (Tên gọi khác C2), sinh năm 1960. Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền cho bà Đặng Thị L1, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị T3, ông Nguyễn Văn C1: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1950. Địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Có mặt
- Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1945. Địa chỉ: Khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1952. Địa chỉ: Khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Xin xét xử vắng mặt
- Ông Nguyễn Chí T5, sinh năm 1955.(đã chết)
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng: Bà Lê Thị C3, sinh năm 1956; anh Nguyễn Quang T6, sinh năm 1985; anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1981, chị Nguyễn Thị N, sinh năm 198, anh Nguyễn Quang V; ông Nguyễn Quý B, sinh năm 1955. Đều có địa chỉ: Ấp T, xã T, TX B, Bình Phước; chị Nguyễn Thị T7, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thành phố B, tỉnh Bình Phước; Bà C3, anh T6, anh G, chị N, anh V, ông B và chị T7 đều xin xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1950. Địa chỉ: Khu C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Xin xét xử vắng mặt
- Ông Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1955. Địa chỉ: Khu C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt
- Bà Nguyễn Thị Đ3, sinh năm 1957. Địa chỉ: Khu F, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1969. Địa chỉ: Khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ
- Ông Đặng Văn N1, sinh năm 1953. Địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Đặng Văn B1, sinh năm 1968. Địa chỉ: Khu D, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Đặng Đình T8, sinh năm 1974. Địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Bà Nguyễn Thị T9, sinh năm 1935. Địa chỉ: Khu G, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Anh Nguyễn Thanh V1, Sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ H, Ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
- Anh Nguyễn Hoài Đ4, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số G, đường số H, ấp P, tổ A, khu phố I, P P, TP T, tỉnh Bình Dương.
- Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ A, Ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
- Anh Nguyễn Quang P, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu phố H, P P, TP T, tỉnh Bình Dương.
Anh Nguyễn Quang P, anh Nguyễn Trung K, anh Nguyễn Hoài Đ4, anh Nguyễn Thanh V1, bà Nguyễn Thị T9, anh Đặng Đình T8, ông Đặng Văn B1, ông Đặng Văn L3, bà Nguyễn Thị L2, bà Nguyễn Thị Đ3. Đều xin xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 18/6/2019, biên bản hòa giải tại Tòa án, Đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện ông Nguyễn Thanh L trình bày: Bố, mẹ ông là Cụ Nguyễn Văn H2 và Cụ Nguyễn Thị Đ5 có 01 thửa đất ở khu 13 xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ diện tích cụ thể ông không nhớ (Diện tích đất này chưa có GCNQSD đất). Bố mẹ ông có 09 người con, chết 01 người còn lại 08 người con là: Bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Chí T5, ông Nguyễn Văn C1. Năm 1981, cụ H2 chia đất cho các con là ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Chí T5, ông Nguyễn Văn C1, và ông Nguyễn Văn T10 (Chồng bà Đ), ông Nguyễn Văn D. Cụ H2 để lại khu đất có diện tích 408m² sau đó cho ông Nguyễn Văn C1 (Chín) quản lý vì lúc đó cụ H2 ốm nặng, ông L đi công tác xa nhà, phần đất cho ông C1 quản lý có đặt ngôi mộ ông H3 nội ông. Do điều kiện kinh tế khó khăn, năm 1985 – 1987 ông C1 đi làm kinh tế ở tỉnh Bình Phước, nên đã tặng cho ông L khu đất này. Bà Nguyễn Thị Đ cùng chồng ông Nguyễn Văn T10 có thửa đất liền kề đã lấn chiếm toàn bộ diện tích 408m² mà do cụ H2 để sau này anh em ông xây nhà thờ họ. Năm 1990 bà Đ, ông T10 đã kê khai cả phần đất có ngôi mộ do Cụ H4 để lại và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Năm 1992 ông xây nền mộ và lập bia mộ dòng họ, cũng không biết là ông Nguyễn Văn T10 và bà Đ đã lấn chiếm. Năm 2013 bà Đ xây nhà cho con gái trên một phần đất đó và xây tường bao ông đã ngăn cản ông và mọi người trong gia đình vào chăm sóc phần mộ cụ H3; ông đã làm đơn đến UBND xã H yêu cầu trả lời rõ nhưng không được giải quyết. Sau khi đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T ông mới biết bà Đ đã chia phần đất đó cho Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T1. Nay ông đề nghị Tòa án giải quyết bà Đ trả lại phần đất có diện tích 408m² đã lấn chiếm có mộ để ông xây nhà thờ họ cúng giỗ tổ tiên.
Ngày 26/4/2012 và ngày 22/10/2022 ông Nguyễn Thanh L có đơn sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện, xác định phần thửa đất trên và ngôi mộ của cụ Nguyễn Văn H5 là tài sản của nhánh họ “Nguyễn” tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đã có từ lâu đời trước những năm 1960 để lại cho ông H4 quản lý và bố ông giao lại cho ông C1 quản lý, ông C1 giao lại cho ông quản lý. Khi ông về thăm nom mộ phần của cụ H5 thì bị bà Đ và anh T1, Q đuổi không cho thăm nom.
Vì vậy ông đề nghị Tòa án: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 485669, tờ bản đồ số 3, tờ bản đồ số 231, diện tích 2.217 m2 cấp ngày 15/12/1990 do UBND huyện T, tỉnh Vĩnh Phú cấp cho ông Nguyễn Văn T10. Tại khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 152 của anh T1, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 153 của anh Q, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 154 của chị T đều do UBND huyện T cấp ngày 06/9/2013.
Buộc gia đình bà Đ và các con là chị T, anh Q và anh T1 phải trả lại cho nhánh họ Nguyễn ngôi mộ của cụ Nguyễn Văn H5 để dòng họ quản lý chăm sóc. Phần đất tranh chấp trong vụ án ông có đơn đề nghị Tòa án thẩm định tại chỗ, còn giá trị đất ông không đề nghị định giá mà áp dụng theo giá do Nhà nước quy định. Các tài sản khác trên đất ông tự ước giá không đề nghị định giá.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Bố, mẹ bà là cụ Nguyễn Văn H2 và cụ Nguyễn Thị Đ5 sinh được 8 người con, trong đó có 3 người con trai và năm người con gái gồm: Bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Chí T5, ông Nguyễn Văn C1. Năm 1959 bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn T10. Năm 1962 cụ H2 và cụ Đ5 là (Bố mẹ đẻ) đã gọi bà lên cho đất nhưng mẹ chồng bà không nhất trí, nên bố mẹ đẻ và mẹ chồng bà đã đổi đất cho nhau. Sau đó vợ chồng bà ở tại khu đất đó từ năm 1962 đến nay không tranh chấp với ai, thửa đất bà sử dụng liền kề với ông T11 (ông T11 đã chết), ông D vợ là T4, và cụ H2 (Cụ H2 là bố đẻ bà). Trong khu đất bà ở có 07 ngôi mộ, có 01 ngôi xây và 06 ngôi mộ đất. Cụ H2 đã chuyển 06 ngôi mộ đất đến nghĩa trang của xã, còn lại 01 ngôi mộ do mới xây nên chuyển sau, cụ H2 bảo khi nào con bà lớn lên thì cụ chuyển nốt ngôi mộ còn lại. Khi các con bà lớn lên thì ngôi mộ đó chưa kịp chuyển đến nghĩa trang thì cụ H2 đã chết nên gia đình bà vẫn để ngôi mộ ở đó và chăm sóc đến nay, đã nhiều lần bà có đề nghị ông Nguyễn Thanh L chuyển ngôi mộ xây đi, ông L nói là đợi khi nào con bà xây dựng nhà cửa thì ông L chuyển ngôi mộ đó đi chỗ khác. Nhưng khi con bà làm nhà ông L không chuyển ngôi mộ đi mà tranh chấp với gia đình bà.
Thửa đất của gia đình bà đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A485669, tờ bản đồ số 3, thửa 231 diện tích 2.217m², cấp ngày 15/12/1990 do UBND huyện T, tỉnh Vĩnh Phú cấp đứng tên chồng bà là ông Nguyễn Văn T10. Tại khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, gia đình bà ở ổn định từ đó cho đến nay không tranh chấp với ai. Năm 2013 bà đã chia cho các con là Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T1. Phần của bà chuyển (Bán) cho em rể là Nguyễn Văn D vợ Nguyễn Thị T4. Nay ông L khởi kiện bà lấn chiếm đất và yêu cầu trả lại bà không đồng ý. Còn giá trị đất bà không đề nghị định giá mà áp dụng theo giá do Nhà nước quy định, các tài sản khác trên phần của các con bà không có ý kiến. Đối với ngôi mộ của cụ H5 đề nghị chuyển lên nghĩa trang đã được quy hoạch của xã H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
* Chị Nguyễn Thị T trình bày: Bố, mẹ chị là ông Nguyễn Văn T10 và bà Nguyễn Thị Đ có thửa đất số 231, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.217m² tại đội 13 xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phú đã được cấp giấy CNQSD đất ngày 15/12/1990. Năm 2002 bố mẹ chị cho chị đất để ở và chị đã làm 01 ngôi nhà lá, đến năm 2011 chị phá bỏ nhà lá và xây dựng nhà mới. Năm 2013 chị đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 693177, số thửa 154, tờ bản đồ số 5, diện tích là 227m² Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp ngày 6/9/2013. Tại khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ hiện nay chị đang sử dụng làm nhà ở. Nay ông Nguyễn Thanh L khởi kiện mẹ chị (Bà Đ) lấn chiếm đất là không có căn cứ, hoàn toàn sai sự thật, đất đó là của bố mẹ đã cho chị. Đối với ngôi mộ của cụ H5 đề nghị chuyển lên nghĩa trang đã được quy hoạch của xã H.
Còn giá trị đất chị không đề nghị định giá mà áp dụng theo giá do Nhà nước quy định. Đối với công trình xây dựng, các tài sản khác và cây cối trên phần đất chị tự ước giá không yêu cầu định giá.
* Anh Nguyễn Văn Q trình bày: Bố, mẹ anh là ông Nguyễn Văn T10 và bà Nguyễn Thị Đ có thửa đất số 231, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.217m² tại đội 13 xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phú đã được cấp giấy CNQSD đất ngày 15/12/1990. Năm 2013 mẹ anh chia đất cho anh và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP693175, số thửa 153 tờ bản đồ số 5, diện tích là 980m². Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp ngày 6/9/2013. Tại khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ anh sử dụng làm nhà và trồng cây ăn quả. Nay ông Nguyễn Thanh L khởi kiện mẹ anh lấn chiếm đất là không có căn cứ, hoàn toàn sai sự thật, đất đó là của bố mẹ đã cho anh. Đối với ngôi mộ của cụ H5 đề nghị chuyển lên nghĩa trang đã được quy hoạch của xã H. Còn giá trị đất anh không đề nghị định giá mà áp dụng theo giá do Nhà nước quy định, những cây cối, tài sản khác do tự ước giá anh không yêu cầu định giá.
* Anh Nguyễn Văn T1 trình bày: Bố, mẹ anh là ông Nguyễn Văn T10 và bà Nguyễn Thị Đ có thửa đất số 231, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.217m² tại đội 13 xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phú đã được cấp giấy CNQSD đất ngày 15/12/1990. Năm 2013 mẹ anh chia đất cho anh và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 693176, số thửa 152 tờ bản đồ số 5, số diện tích là 438m². Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp ngày 6/9/2013. Tại khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, hiện nay anh sử dụng trồng cây, hoa màu. Nay ông Nguyễn Thanh L khởi kiện mẹ anh lấn chiếm đất là không có căn cứ, hoàn toàn sai sự thật, đất đó là của bố mẹ đã cho anh. Đối với ngôi mộ của cụ H5 đề nghị chuyển lên nghĩa trang đã được quy hoạch của xã H.
Còn giá trị đất anh không đề nghị định giá mà áp dụng theo giá do Nhà nước quy định, những cây cối, tài sản khác do tự ước giá anh không yêu cầu định giá.
* Bà Đặng Thị L1 trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Thanh L, năm 1972 bà về làm dâu gia đình Cụ Nguyễn Văn H2 và Cụ Nguyễn Thị Đ5. Trước khi chết 02 Cụ giao cho hai vợ chồng bà thửa đất trong đó có một ngôi mộ ông nội chồng bà là Cụ Nguyễn Văn H5, thửa đất trên để mồ mả của dòng họ như trong đơn khởi kiện của chồng bà. Ngôi mộ Cụ nội chồng bà xây năm 1960 và mảnh đất đó không bao giờ bố mẹ chồng bà cho ông Nguyễn Văn T10 và bà Nguyễn Thị Đ. Trách nhiệm trông coi mồ mả và thờ cúng vẫn là chồng bà xây đắp từ xưa. Bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của chồng bà.
* Bà Nguyễn Thị T2 trình bày: Bà là con cụ H5 và Cụ Đ6, thửa đất này do Cụ H5 và Cụ Đ6 (Bố, mẹ bà, ông H2) để lại chưa có bìa đỏ, địa chỉ khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, bố mẹ bà sinh được 8 người con nhưng 6 người đã chết, sau khi bố mẹ bà chết thửa đất đó ông H2 quản lý, theo bà được biết trước khi ông H2 chết thửa đất được chia cho bà Đ, ông L, ông T5 và ông C1, trên đất ông L và bà Đ tranh chấp có 01 ngôi mộ, nay bà đề nghị thửa đất đang tranh chấp giải quyết theo quy định. Giao cho ông L quản lý ngôi mộ cụ H5.
* Bà Nguyễn Thị Đ1 trình bày: Bố, mẹ bà C4 Nguyễn Văn H2 và Cụ Nguyễn Thị Đ5 có 01 thửa đất do ông cha để lại chưa có bìa đỏ, địa chỉ khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, bố mẹ bà sinh được 9 người con, chết 01 người còn lại 8 người, trong đó có 3 người con trai và 05 người con gái. Trước khi chết bố mẹ bà đã cho bà Đ, ông L, ông T5 và ông C1 mỗi người 01 thửa đất, đất cho bà Đ có diện tích bao nhiêu bà không biết, hiện nay bà Đ đã làm nhà ở trên đất đó, việc tranh chấp giữa ông L và bà Đ bà không có quan điểm gì. Việc ông L khởi kiện bà Đ là không đúng. Đối với sơ đồ ông Long cung c cho Tòa án được vẽ ngày 24/01/1981 không phải của bố bà vẽ.
* Bà Nguyễn Thị T3 trình bày: Bố, mẹ bà C4 Nguyễn Văn H2 và Cụ Nguyễn Thị Đ5 có 01 thửa đất do ông cha để lại chưa có bìa đỏ, địa chỉ khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, bố mẹ bà sinh được 9 người con, chết 01 người còn lại 8 người, trong đó có 3 người con trai và 05 người con gái. Bà được biết bố mẹ bà đã cho bà Đ, ông L, ông T5 và ông C1 mỗi người 01 thửa, diện tích đất còn lại bao nhiêu bà không biết, trên thửa đất có 07 ngôi mộ, sau đó bố bà đã di chuyển 06 ngôi mộ đi chỗ khác, còn lại 01 ngôi mộ xây bố bà không giao cho ai quản lý. Sau khi bố mẹ bà chết thì bà Đ trực tiếp ở trên thửa đất đó và trông coi ngôi mộ. Đối với sơ đồ vẽ ngày 24/01/1981 ông Long cung c cho Tòa án là do ai vẽ bà không biết.
Ngày 07/7/2023 trong biên bản ghi lời khai bà T3 xác định: Đề nghị gia đình bà Đ và các con là chị T, anh Q và anh T1 phải trả lại cho dòng họ Nguyễn diện tích đất và ngôi mộ của cụ Nguyễn Văn H5 để dòng họ quản lý chăm sóc. Nay bà tuổi cao sức yếu đi lại khó khăn, bà xin được vắng mặt tại phiên tòa.
* Bà Nguyễn Thị T4 trình bày: Bố, mẹ bà C4 Nguyễn Văn H2 và Cụ Nguyễn Thị Đ5 có 01 thửa đất do ông cha để lại chưa có bìa đỏ, địa chỉ khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, bố mẹ bà sinh được 9 người con, chết 01 người còn lại 8 người, trong đó có 3 người con trai và 05 người con gái. Trước khi chết bố mẹ bà đã cho bà Đ, ông L, ông T5 và ông C1 mỗi người 01 thửa đất, bà được biết diện tích có 01 ngôi mộ bố mẹ bà đã cho bà Đ. Việc ông L khởi kiện bà Đ là không đúng. Đối với sơ đồ vẽ ngày 24/01/1981 ông Long cung c cho Tòa án không phải của bố bà vẽ.
* Bà Nguyễn Thị T9 trình bày: Bà là con của cụ H5 bà không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của ông L.
* Ông Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn Đ2 trình bày: Hai ông là cháu ngoại cụ H5, nay ông L khởi kiện bà Đ về đòi đất đai dòng họ, đề nghị không chấp nhận yêu cầu của ông L. Đề nghị chuyển ngôi mộ cụ H5 lên nghĩa trang của UBND xã H.
* Bà Nguyễn Thị Đ3, Nguyễn Thị L2; ông Đặng Văn N1, Đặng Văn B2 bày: Là cháu ngoại cụ H5, đều không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện của ông L.
* Ông Đặng Đình T8 trình bày: Ông là cháu ngoại cụ H5. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu của ông L. Đề nghị chuyển ngôi mộ cụ H5 lên nghĩa trang của UBND xã H.
* Đối với những người khác như bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Chí T5 và ông Nguyễn Văn C1 là con của cụ H2, là cháu nội của cụ H5 không có lời khai và đã ủy quyền cho ông L tham gia tố tụng.
* Anh Nguyễn Thanh V1, anh Nguyễn Hoài Đ4, anh Nguyễn Trung K, anh Nguyễn Quang P là chắt của cụ Nguyễn Văn H5 trình bày:
Ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị Đ5 có 01 thửa đất ở khu 13 xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. ông bà có 09 người con, chết 01 người còn lại 08 người con là: Bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Chí T5, ông Nguyễn Văn C1. Năm 1981 Cụ Hách chia đất cho các con là ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Chí T5, ông Nguyễn Văn C1, và ông Nguyễn Văn T10 (Chồng bà Đ), ông Nguyễn Văn D. Cụ H2 để lại khu đất có diện tích 408m² sau đó cho ông Nguyễn Văn C1 (Chín) quản lý vì lúc đó Cụ Hách ốm nặng, ông L đi công tác xa nhà, phần đất cho ông C1 quản lý có đặt ngôi mộ ông H5 cụ nội. Bà Nguyễn Thị Đ cùng chồng ông Nguyễn Văn T10 có thửa đất liền kề đã lấn chiếm toàn bộ diện tích 408m² mà do Cụ H2 để sau này xây nhà thờ họ. Năm 1990 bà Đ, ông T10 đã kê khai cả phần đất có ngôi mộ do Cụ H4 để lại và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nay đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Đ trả lại phần đất có diện tích 408m² đã lấn chiếm có mộ cụ H5 để dòng họ xây nhà thờ họ cúng giỗ tổ tiên.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 485669, tờ bản đồ số 3, thửa đất số 231, diện tích 2.217 m2 cấp ngày 15/12/1990 do UBND huyện T, tỉnh Vĩnh Phú cấp cho ông Nguyễn Văn T10.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 152 tờ bản đồ số 5, diện tích 438m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 693176 cấp ngày 06/9/2013 của anh Nguyễn Văn T1; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa số 153 tờ bản đồ số 5, diện tích 980m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 693175 cấp ngày 06/9/2013 của anh Nguyễn Văn Q, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 154 tờ bản đồ số 5, diện tích 227m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 693177 cấp ngày 06/9/2013của chị Nguyễn Thị T đều do UBND huyện T cấp ngày 06/9/2013.
Buộc gia đình bà Đ và các con là chị T, anh Q và anh T1 phải trả lại phần đất và ngôi mộ cụ H5 trên cho ông Nguyễn Thanh L để xây nhà thờ họ.
Tại Bản án dân sự số: 07/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 và Quyết định sửa chữa, bổ sung Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ đã:
* Căn cứ: Khoản 5, Điều 26; Điều 147; Khoản 1, Điều 227; Khoản 1, Điều 228; Điều 271; Khoản 1, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 100, Điều 105, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 211, 216 Bộ luật Dân sựNghị quyết 01/2020/NQ-HĐTPHội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về tài sản chung của dòng họ; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh L đối với bà Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T1 về việc đòi lại phần diện tích đất là Tài sản chung của dòng họ “Nguyễn” do bà Đ và ông T10 đã kê khai, được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận QSD đất số A 485699, thửa 231, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.217m²cấp cho ông Nguyễn Văn T10 ngày 15/12/1990 được cấp theo bản đồ 299 cũ . Sau đó được cấp theo bản đồ mới là thửa đất số 303, tờ bản đồ số 28. Địa chỉ tại khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Năm 2013 thửa đất số 303, tờ bản đồ số 28, diện tích 2.217m² đãđược chia tách ra thành 03 thửa đất của anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn T1 và chị Nguyễn Thị T.
- Buộc anh Nguyễn Văn Q phải trả lại cho dòng họ “Nguyễn” phần diện tích đất 86.9m² theo các chỉ giới từ 4-5-13-14-4 có sơ đồ thửa đất kèm theo, tại thửa đất số 153, tờ bản đồ 5, theo GCNQSD đất số BP 693175 được UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 06/9/2013; trị giá: 54.747.000đ (Năm mươi tư triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).
- Buộc anh Nguyễn Văn T1 phải trả lại cho dòng họ “Nguyễn” phần diện tích đất 117.3m² theo các chỉ giới 2-3-4-14-2 có sơ đồ thửa đất kèm theo;tạithửa đất số152, tờ bản đồ số 5, theo GCNQSD đất số BP 693176 được UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 06/9/2013, trị giá: 73.899.000₫ (Bảy mươi ba triệu tám trăm chín mươi chín nghìn đồng).
- Đều có địa chỉ tại khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Xác nhận Trên đất có 01 ngôi mộ của cụ Nguyễn Văn H5 là cụ 4 đời của nhánh họ Nguyễn tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Ngôi mộ của cụ Nguyễn Văn H5 có diện tích 10.26m² các thành viên trong nhánh Họ Nguyễn đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc đối với phần mộ của cụ H5 không ai được ngăn cấm.
- Buộc ông Nguyễn Thanh L:
- Phải thanh toán Giá trị cây trồng cho anh Nguyễn Văn Q gồm: 03 cây bưởi đang có quả có giá trị 485.000/1 cây x 3 cây = 1.455.000đ (Một triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng), 01 cây vải có kích thước khoản 25 cm có giá trị là 1.213.000đ (Một triệu hai trăm mười ba nghìn đồng); 01 cây đào có kích thước 15cm có giá trị là 364.000₫ (Ba trăm sáu mươi tư nghìn đồng). Tổng trị giá 3.032.000đ (Ba triệu không trăm ba mươi hai nghìn đồng).
- Phải thanh toán cho anh Nguyễn Văn T1: 04 cây bưởi đang có quả có giá trị 485.000/1 cây x 4 cây =1.940.000đ (Một triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Buộc anh Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn Q phải tháo dỡ bức tường rào xây để trả lại diện tích đất và ngôi mộ cho dòng họ “Nguyễn” dài 17m, cao 1,5m.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh L đối với phần diện tích 203,8m² đất đối với bà Đ, hiện anh Nguyễn Văn Q, chị Nguyễn Thị T quản lý.
- Kiến nghị UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ thu hồi GCNQSD đất số BP 693175 cấp ngày 06/9/2013, đối với thửa đất số152, tờ bản đồ số 5, tại Khu 13 xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ;cấp cho anh Nguyễn Văn Q ;
- Thu hồi GCNQSD đất số BP 693176 cấp ngày 06/9/2013 đối với thửa đất số153, tờ bản đồ số 5, tại Khu 13 xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ;cấp cho anh Nguyễn Văn T1, để cấp lại theo quy định.
- Về chi phí giám định tài liệu: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L nhận chịu toàn bộ tiền chi phí giám định là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng chẵn), theo biên lai thu tiền ngày 10/12/2019 và biên lai thu tiền ngày 13/7/2020 của Phòng K1 Công an tỉnh P.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: ông Nguyễn Thanh L nhận chịu toàn bộ tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ (Lệ phí đo đạc) số tiền là 3.140.000₫ (Ba triệu một trăm bốn mươi ngàn đồng) có bảng kê chi phí kèm theo. Trả lại cho nguyên đơn số tiền 3.860.000₫ (Ba triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng) theo biên bản ngày 24/9/2020.(Xác nhận ông L đã nhận lại số tiền trên).
- Ngày 11/10/2022 chi phí đo đạc hết 2.954.712₫ (Hai triệu chín trăm năm mươi tư nghìn bảy trăm mười hai đồng) ông L nhận chịu tòa bộ số tiền trên.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Thanh L. Theo quyết định miễn nộp tiền tạm ứng án phí số 02/QĐ- TA ngày 14/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Anh Nguyễn Văn Q phải chịu 2.737.400₫ (Hai triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn bốn trăm đồng); anh Nguyễn Văn T1 phải chịu 3.694.900đ (Ba triệu sáu trăm chín mươi tư nghìn chín trăm đồng).
Ngoài ra Bản án còn tuyên về quyền đề nghị thi hành án, quyền kháng cáo.
Ngày 03/10/2023 ông Nguyễn Thanh L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Lý do kháng cáo: Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm xem xét đánh giá chứng cứkhông khách quan, chưa đầy đủ; ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông.
Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết những việc sau đây: Sửa Bản án dânsự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện ThanhThủy, tỉnh Phú Thọ theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 11/10/2023 bà Nguyễn Thị Đ có đơn kháng cáo bản án số 07/2023/DS-ST ngày 28/9/2023, không đồng ý với quyết định của TAND huyện Thanh Thuỷ với nội dung như sau:
Bà và gia đình đã sống tại thửa đất này từ năm 1962 đến nay, đã được chính quyềncấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Thuế đất đã nộp đầy đủ theo quy định, việc cho các con bà đất cũng được thực hiện theo đúng quy trình của nhà nước và chính quyền địa phương. Ngôi mộ của cụ gia đình bà vẫn đang chăm sóc. Vì vậy, bàkhông chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thanh L với gia đình bà bằng những giấy tờ thu thập vô căn cứ. Không được cơ quan chức năng cũng như chính quyền địa phương xác nhận. Mọi lý do để kiện cáo đều không có bằng chứng xácthực. Đề nghị cơ quan chức năng làm rõ các cá nhận, cán bộ địa phương đã có hành vi cung cấp các giấy tờ sai sự thật, không được thể hiện trong kho lưu trữ của chính quyền và các cơ quan lưu trữ của nhà nước, làm mất an ninh trật tự, gây dư luận xấu tại địa phương vì thực tế gia đình bà đã sống ở đó mấy chục năm không có tranh chấp gì với ai cả.
Ngày 12/10/2023, anh Nguyễn Văn T1 và anh Nguyễn Văn Q có đơn kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ với lý do:
Bản án sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 28/09/2023 của TAND huyện Thanh Thuỷ đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật kể cả về tô tụng cũng như nội dung áp dụng áp dụng pháp luật, cụ thể sẽ trình bày tại phiên toà phúc thẩm.
Đề nghị TAND tỉnh Phú Thọ:
Sửa bản án sơ thẩm và tuyên: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh L.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu có cơ sở để huỷ Bản án sơ thẩm số sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 28/09/2023 của TAND huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ thì huỷ Bản án này và giao cho Toà án cấp sơ thẩm xét xử lại theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh L. Các tài liệu, chứng cứ sẽ cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm.
Tại Quyết định kháng nghị số 553/QĐ-VKS-DS ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với Bản án sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ.
Thứ nhất: Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L đề nghị Tòa án hủy giấy chứngnhận quyền sử dụng đất số A 485669 do UBND huyện T, tỉnh VĩnhPhú (nay là UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ) cấp cho ông Nguyễn V2 đối với thửa đất số 231, tờ bản đồ 3 diện tích 2217m cấp ngày 15/12/1990tại khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đồng thời ông Long đề nghị Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện ThanhThủy cấp số BP 693177 cho chị Nguyễn Thị T đối với thửa đất số 154, tờ bảnđồ số 5 diện tích là 227m đất ở; số BP693175 cho anh Nguyễn Văn Q đối vớithửa đất 153 tờ bản đồ số 5 diện tích là 980m2 đất ở; số BP 693176 cho anhNguyễn Văn Thọ đối với thửa đất số 152 tờ bản đồ số 5 diện tích là 438m2 đất ởcùng ngày 06/9/2013 tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.Bản án sơ thẩm nhận định: Phần đất có ngôi mộ của cụ H5 là có trướckhi bà Đ và ông T10 về sinh sống và do cụ H4, cụ Đ5 quản lý chứkhông phải của bà Đ và ông T10 khai phá; nguồn gốc của thửa đất và ngôimộ của cụ H5 là của cụ H4 đã chia cho các con, phần còn lại có ngôi mộgiao cho ông C1 quản lý. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất cả phần đất có ngôi mộ mà không xem xét kỹ phần đấtnày là của ai là không đúng quy định pháp luật. Như vậy, khi UBND huyện T (nay là huyện T) cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T10 lần đầu năm 1990 trên đất đãcó ngôi mộ của cụ H5, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này chưađúng quy định. Do việc cấp đất cho ông T10 đối với thửa này không đúng vìvậy khi ông T10, bà Đ chia cho các con để các con ông T10, bà Đ đượccấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2013 trên phần đất đã có ngôi mộcủa cụ H5 là chưa đúng quy định.
Ông L khởi kiện vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất có yêuGiây chứng nhận quyền sử dụng đất vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa ánsự năm 2015, khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Tuynhiên, Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy xét xử sơ thẩm vụ án là chưa đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợpcó xem xét việc hủy quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này được xácđịnh theo quy định tương ứng của Luật Tố tụng hành chính về thẩm quyền củaTòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh”. Khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định Tòa áncấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây: “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhândân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án”.
Thứ hai: Bản án sơ thẩm chưa giải quyết đầy đủ yêu cầu khởi kiện của đương sự:
Yêu cầu khởi kiện của của ông L đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấpquyền sử dụng đất và hủy cả 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ôngTrâm, anh Q, chị T, anh T1 như đã nêu trên. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm chỉ quyết định kiến nghị UBND huyện T thu hồi GCNQSD đất cấp cho anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn V3 năm 2013 để cấp lại theo quy định là không giải quyết hết các yêu cầu khởikiện của đương sự. Không những thế, tính chất của quyết định về việc hủy giấychứng nhận quyền sử dụng đất có nhiều điểm khác với kiến nghị UBND huyện Thanh Thủy thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thứ ba: Bản án, hồ sơ vụ án còn nhiều vi phạm cụ thể như sau: Bản án xác định quan hệ tranh chấp ngôi mộ của dòng họ là chưa phùhợp bởi lẽ: Mồ mả trên đất hiện nay không được coi là “tài sản” gắn liền với đấthoặc là “tài sản” theo định nghĩa của Bộ luật dân sự 2015. Bản án xác định chưa đầy đủ những người có quyền lợi nghĩa vụ liênquan tham gia tố tụng là Ủy ban nhân dân huyện T.
Bản án gốc và bản án chính đều không có sơ đồ sơ đồ thửa đất kèm theo như quyết định của bản án.
Tòa án thu thập chưa đầy đủ tài liệu chứng cứ: Hồ sơ vụ án chỉ có bảnphoto giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T10, anh Q, chị T, anhThọ. Tòa án không yêu cầu anh Q, chị T, anh T1 phải cung cấp bản saohợp pháp hoặc hồ sơ vụ án có tài liệu thể hiện Tòa án đã đối chiếu với bản chínhcủa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của đương sự đồng thời làm rõ quyền sửdụng đất có đang là tài sản thế chấp, là tài sản đảm bảo cho khoản vay nàokhông từ đó có cơ sở giải quyết vụ án chính xác, toàn diện.
Bản án quyết định buộc anh Nguyễn Văn Q phải chịu 2.737.400đ, anh Nguyễn Văn T1 phải chịu 3.694.000đ là không đúng quy định tại khoản 2 Điều27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụQuốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệphí Toà án. Không những thế, ông Nguyễn Thanh L là người đại diện cho dònghọ thuộc đối tượng được miễn án phí nhưng những người khác trong dòng họ Toà án chưa làm rõ họ có là đối tượng được miễn án phí hay không từ đó quyết định miễn toàn bộ án phí đối với nghĩa vụ thanh toán giá trị cây trồng trên đất cho anh Q, anh T1 và một phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận của ông L là không đúng. Ngoài ra, bản án buộc ông L phải thanh toán giá trị tiền cây do anh Q, anh T1 là không đúng quy định.
Biên bản nghị án bắt đầu hồi 11 giờ 05 phút ngày 28 tháng 9 năm 2023,kết thúc hồi 11 giờ 20 phút ngày 02 tháng 3 năm 2023 là không đúng. Sau khinghị án, Hội đồng xét xử tuyên án, bản án dài 19 trang nhưng phiên tòa kết thúchội 11 giờ 30 phút cùng ngày là không phù hợp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu có cơ sở để huỷ Bản án sơ thẩm số sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 28/09/2023 của TAND huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ thì huỷ Bản án này và giao cho Toà án cấp sơ thẩm xét xử lại theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh L. Các tài liệu, chứng cứ sẽ cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm.
Tại phiên tòa ngày 23/7/2024 ông Nguyễn Thanh L và người đại diện theo ủy quyền của ông L rút một phần khởi kiện về hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T10, bà Đ vì giấy chứng nhận này không còn. Các nội dung khác vẫn giữ nguyên; theo đơn khởi kiện yêu cầu gia đình bà Đ trả lại 408m2 đất có ngôi mộ, cấp sơ thẩm tuyên chưa đủ, thiếu so với yêu cầu khởi kiện. Nay chỉ yêu cầu trả lại 358,7m2 đất.
Bà Đ, anh T1 và anh Q giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của ông L. Ngoài ra anh Nguyễn Văn Q trình bày giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp cho anh ngày 06/9/2013 đang thế chấp tại ngân hàng TMCP N2 chi nhánh P1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Phát biểu về quan điểm nội dung vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 khoản 3 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận kháng nghị phúc thẩm số 553/QĐ-VKS-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023của VKSND tỉnh Phú Thọ. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết theo thẩm quyền.
Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh L, bà Nguyễn Thị Đ, anh Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn Q không phải chịu án phí phúc thẩm. (có bài phát biểu kèm theo).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thanh L, bà Nguyễn Thị Đ, anh Nguyễn Văn T1 và anh Nguyễn Văn Q làm trong luật định, đơn hợp lệ đúng với Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đúng theo Điều 279 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự. Kháng cáo của các đương sự và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đặng Thị L1, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Văn C1 đều xin xét xử vắng mặt và ủy quyền cho ông L;
Ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị Đ3, bà Nguyễn Thị L2, ông Đặng Văn N1, ông Đặng Văn B1, ông Đặng Đình T8, bà Nguyễn Thị T9, anh Nguyễn Thanh V1, anh Nguyễn Hoài Đ4, anh Nguyễn Trung K, anh Nguyễn Quang P đều xin xét xử vắng mặt. Bà Nguyễn Thị Đ1 vắng mặt phiên tòa lần thứ 2.
Quá trình xét xử phúc thẩm, ông Nguyễn Chí T5 đã chết tháng 3/2024. Tòa án đưa vợ con của ông T5 là bà Lê Thị C3, các con là anh Nguyễn Quang T6, chị Nguyễn Thị T7, anh Nguyễn Văn G, chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Quang V có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà Nguyễn Thị Đ1 vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần 2.
Ông L, bà Đ, anh T1, anh Q đều đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt những người trên. Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng đưa vụ án ra xét xử.
[2] Xét nội dung kháng cáo của đương sự, kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy:
Cụ Nguyễn Văn H2 và cụ Nguyễn Thị Đ5 có 01 thửa đất ở khu 13 xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (diện tích đất này chưa có GCNQSD đất). Hai cụ có 09 người con, chết 01 người còn lại 08 người con là: Bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Chí T5, ông Nguyễn Văn C1. Năm 1981 cụ Hách chia đất cho các con là ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Chí T5, ông Nguyễn Văn C1 và ông Nguyễn Văn T10 (chồng bà Đ), ông Nguyễn Văn D. Cụ H2 để lại khu đất có diện tích 408m² sau đó cho ông Nguyễn Văn C1 (Chín) quản lý vì lúc đó Cụ Hách ốm nặng, ông L đi công tác xa nhà, phần đất cho ông C1 quản lý có đặt ngôi mộ ông H5 nội ông. Do điều kiện kinh tế khó khăn, năm 1985 – 1987 ông C1 đi làm kinh tế ở tỉnh Bình Phước, nên đã tặng cho ông L khu đất này. Bà Nguyễn Thị Đ cùng chồng ông Nguyễn Văn T10 có thửa đất liền kề đã lấn chiếm toàn bộ diện tích 408m² mà do cụ H2 để sau này anh em ông xây nhà thờ họ. Năm 1990 bà Đ, ông T10 đã kê khai cả phần đất có ngôi mộ do cụ H2 để lại và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1992 ông ông L xây nền mộ và lập bia mộ dòng họ, cũng không biết là ông Nguyễn Văn T10 và bà Đ đã lấn chiếm. Năm 2013 bà Đ xây nhà cho con gái trên một phần đất đó và xây tường bao đã ngăn cản ông L và mọi người trong gia đình vào chăm sóc phần mộ cụ H5; ông L đã làm đơn đến UBND xã H yêu cầu trả lời rõ nhưng không được giải quyết. Sau khi đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T ông L mới biết bà Đ đã chia phần đất đó cho Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T1. Ông L đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Đ trả lại phần đất có diện tích 408m² đã lấn chiếm có ngôi mộ để ông L xây nhà thờ họ cúng giỗ tổ tiên. Ngày 26/4/2022 và ngày 22/10/2022 ông Nguyễn Thanh L có đơn sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện, xác định phần thửa đất trên và ngôi mộ của cụ Nguyễn Văn H5 là tài sản của nhánh họ “Nguyễn” tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ đã có từ lâu đời trước những năm 1960 để lại cho ông H2 quản lý và ông H2 giao lại cho ông C1 quản lý, ông C1 giao lại cho ông L quản lý. Khi ông L về thăm nom mộ phần của cụ H5 thì bà Đ và anh T1, Q không cho thăm nom. Vì vậy ông L đề nghị Tòa án: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 485669, tờ bản đồ số 3, thửa đất số 231, diện tích 2.217 m2 cấp ngày 15/12/1990 do UBND huyện T, tỉnh Vĩnh Phú cấp cho ông Nguyễn Văn T10. Tại khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 152 của anh T1, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 153 của anh Q, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 154 của chị T đều do UBND huyện T cấp ngày 06/9/2013.
Xét thấy ông Nguyễn Văn T10 và bà Nguyễn Thị Đ đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phú, nay là Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp GCNQSD ngày 15/12/1990 cho ông Nguyễn Văn T10. Năm 2013, bà Đ đã tặng cho các con là Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn T1. Chị T, anh Q và anh T1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy xác định ông T10 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, sau đó bà Đầm t cho các con và chị T, anh Q và anh T1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được xác định lần 2. Căn cứ vào Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy cấp sơ thẩm có thẩm quyền giải quyết và kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp lại theo quyết định của bản án. Do vậy kháng nghị của Viện kiểm sát cho rằng cấp sơ thẩm giải quyết không đúng thẩm quyền là không có căn cứ chấp nhận.
Quá trình cấp sơ thẩm giải quyết vụ án, theo hồ sơ chỉ có bản photo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Q, chị T, anh T1; cấp sơ thẩm chưa làm rõ quyền sử dụng đất có đang là tài sản thế chấp, là tài sản đảm bảo cho khoản vay nào không, từ đó cần thu thập tài liệu chứng cứ để đưa đầy đủ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Q trình bày giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 153 tờ bản đồ số 5 tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ anh Q đang thế chấp tại Ngân hàng V4 - Chi nhánh tỉnh P1 để đảm bảo cho khoản vay. Cấp phúc thẩm tiến hành xác minh và xác định anh Q đã thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 22/BĐS/446 ký ngày 27/6/2022 cho tất cả các hợp đồng sử đổi bổ sung với ngân hàng. Đại diện của ngân hàng đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật. Xét thấy vụ án này đã được thụ lý giải quyết từ năm 2019, qua nhiều cấp xét xử, nhưng ngày 27/6/2022 anh Q đã vay tiền và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên với ngân hàng. Tại cấp sơ thẩm anh Q không khai việc thế chấp này nên cấp sơ thẩm không biết, đây là lỗi của anh Q. Tại cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, vì vậy kháng nghị của Viện kiểm sát về vấn đề này là có căn cứ chấp nhận.
Ngoài ra cấp sơ thẩm có một số thiếu sót như: Bản án gốc và bản án chính đều không có sơ đồ sơ đồ thửa đất kèm theo; Bản án quyết định buộc anh Nguyễn Văn Q phải chịu 2.737.400đ, anh Nguyễn Văn T1 phải chịu 3.694.000đ là không đúng quy định tại khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Không những thế, ông Nguyễn Thanh L là người đại diện cho dòng họ thuộc đối tượng được miễn án phí nhưng những người khác trong dòng họ Tòa án chưa làm rõ họ có là đối tượng được miễn án phí hay không từ đó quyết định miễn toàn bộ án phí đối với nghĩa vụ thanh toán giá trị cây trồng trên đất cho anh Q, anh T1 và một phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận của ông L là không đúng. Ngoài ra, bản án buộc ông L phải thanh toán giá trị tiền cây cho anh Q, anh T1 là không đúng quy định; Biên bản nghị án bắt đầu hồi 11 giờ 05 phút ngày 28 tháng 9 năm 2023, kết thúc hồi 11 giờ 20 phút ngày 02 tháng 3 năm 2023 là không đúng. Đối với nội dung về thời gian trong biên bản nghị án này, sau khi có kháng nghị phúc thẩm của VKSND tỉnh, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Hồng Canh và ông Phan Mạnh Hùng có biên bản làm việc ngày 30/10/2023 về việc do lỗi đánh máy nên thể hiện thời gian kết thúc nghị án là 11 giờ 20 phút ngày 02/3/2023 nên đã tiến hành xem xét, thống nhất điều chỉnh lại thời gian kết thúc trong biên bản nghị án của hồ sơ vụ án, nội dung sửa chữa từ 11 giờ 20 phút ngày 02/3/2023 thành 11 giờ 20 phút ngày 28/9/2023; Không những thế, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử tuyên án, bản án dài 19 trang nhưng phiên tòa kết thúc hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày là không phù hợp. Đây là những thiếu sót, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Do vậy Viện kiểm sát kháng nghị về vấn đề này là có căn cứ.
Từ những phân tích trên, nhận thấy: Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy đưa Ngân hàng V4 - Chi nhánh tỉnh P1 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Cần phải hủy bản án của cấp sơ thẩm và giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm.
Do cấp phúc thẩm hủy bản án của cấp sơ thẩm nên không xem xét đến kháng cáo của các đương sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 khoản 3 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận một phần kháng nghị phúc thẩm số 553/QĐ-VKS-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giải quyết theo lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh L, bà Nguyễn Thị Đ, anh Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn Q không phải chịu án phí phúc thẩm.
Hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa số 0003665 ngày 19/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn Q 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa số 0003664 ngày 19/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM - Lưu văn phòn:Phạm Văn Toàn |
Bản án số 58/2024/DS-PT ngày 19/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất và ngôi mộ dòng họ
- Số bản án: 58/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và ngôi mộ dòng họ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và ngôi mộ dòng họ
