|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 58/2024/HS-ST Ngày: 19/8/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Hà Văn Đức.
2/ Bà Phan Thị Duệ.
Thư ký phiên toà: Bà Vi Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Hoàng Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST – HS ngày 29 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1993 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T1 và bà Lim Thị T2 (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: Năm 2022 bị TAND huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 53/2022/HSST ngày 30/6/2022, chấp hành xong án phạt tù ngày 06/10/2023 (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2024 đến nay. (Có mặt)
Người làm chứng: Anh Lang Văn Đ, sinh năm: 1987.
Trú tại: khối T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 17/4/2024 Lang Văn Đ gọi điện thoại liên lạc với Hoàng Văn T hỏi có ma túy không xin với T một ít để sử dụng và được T đồng ý, cả hai hẹn gặp nhau ở gần nhà của T, khi Đ đi sang bản Đ, xã C cả hai gặp nhau ở ngoài đường trước nhà của anh Hoàng Văn D cũng là người quen của T, quan sát thấy trong nhà của anh D không có người ở nhà nên Thân nói với Đ cùng đi vào nhà của anh Hoàng Văn D để cùng sử dụng ma túy, sau khi vào nhà cả hai đến ngồi tại khu vực giường ngủ ở phòng khách, T lấy gói ma túy cất giấu trong ví da của mình đưa ra cho Đ, nhận được gói ma túy Đ mở ra lấy một phần bỏ vào bên trong bơm kim tiêm để chuẩn bị sử dụng, số ma túy còn lại Đức gói lại bằng mảnh giấy bạc màu trắng để trên giường, trong lúc Đ đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì lực lượng Công an xã C, huyện Q kiểm tra bắt quả tang tiến hành lập biên bản tạm giữ người và vật chứng đưa về trụ sở điều tra, xử lý theo quy định. Quá trình điều tra Hoàng Văn T khai nhận gói ma túy T chia cho Đ sử dụng có nguồn gốc trước đó mua từ một người đàn ông không quen biết với số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng), sau khi mua T đã sử dụng một ít, số ma túy còn lại bị cáo cất giấu trong ví da của mình cho đến lúc Đ gọi điện thoại xin một ít để sử dụng và bị bắt quả tang.
Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 17/4/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác định: Mở gói niêm phong thứ nhất thấy bên trong gói niêm phong có 01 (một) bơm kim tiêm bằng nhựa, bên trong bơm kim tiêm có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) có khối lượng cả bì là 3,995g (ba phẩy chín trăm chín mươi lăm gam); sau khi loại bỏ bao bì, số chất bột màu trắng có khối lượng là 0,02g (không phẩy không hai gam), cán bộ kỹ thuật hình sự trích toàn bộ chất rắn màu trắng nói trên để đưa đi giám định tính chất ma túy (ký hiệu là M1).
Mở gói niêm phong thứ hai thấy bên trong gói niêm phong có 01 (một) gói chất rắn màu trắng, được bọc bằng mảnh giấy bạc màu trắng (nghi là ma túy) có khối lượng cả bì là 0,07g (không phẩy không bảy gam); sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,02g (không phẩy không hai gam), cán bộ kỹ thuật hình sự trích toàn bộ chất rắn màu trắng nói trên để đưa đi giám định tính chất ma túy (ký hiệu là M2).
Số vật chứng còn lại bao gồm bơm kim tiêm nhựa màu trắng, mảnh giấy bạc màu trắng và toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo đúng quy định.
Kết luận giám định số: 450/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 25/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “- Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1) và mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M2) thu giữ của Lang Văn Đ và Hoàng Văn T gửi tới giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- Số chất bột màu trắng thu giữ của Lang Văn Đ và Hoàng Văn T có khối lượng là 0,02g (không phẩy không hai gam).
- Số chất rắn màu trắng thu giữ của Lang Văn Đ và Hoàng Văn T có khối lượng là 0,02g (không phẩy không hai gam).”
Bản cáo trạng số: 57/CT-VKS-QC ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam. Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ngoài ra đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm bơm kim tiêm, mảnh giấy bạc cùng toàn bộ vỏ bao lấy mẫu, niêm phong cũ đã được niêm phong lại theo đúng quy định. Trả lại cho bị cáo 01 (một) chiếc ví da và 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Realme đã qua sử dụng, trả cho Lang Văn Đ 01 (một) chiếc điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận và ý kiến bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, làm rõ những nội dung liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo, căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng là đúng quy định.
[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người làm chứng, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định.
Vào ngày 17/4/2024 tại nhà anh Hoàng Văn D ở bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về hoạt động có dấu hiệu tội phạm, tổ công tác Công an xã C tiến hành kiểm tra phát hiện, bắt quả tang bị cáo Hoàng Văn T cùng Lang Văn Đ đang có hành vi tàng trữ ma túy (Heroine) có tổng khối lượng là 0,04g (không phẩy không bốn gam) với mục đích để sử dụng, tuy khối lượng ma túy cất giấu để sử dụng dưới 0,1g (không phẩy một gam) nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo T đã có 01 (một) tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo và Lang Văn Đ phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, hành vi phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh truyền nhiễm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, đã từng chấp hành án phạt tù về tội phạm liên quan đến ma túy nên nhận thức được tác hại của chất ma túy nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, để nhằm thỏa mãn nhu cầu bất hợp pháp của cá nhân đã cố ý phạm tội, nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo được giáo dục, có thời gian cải tạo, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và nhằm răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
[4] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tiền án về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, trong vụ án này được xác định là tình tiết định tội nên không xem xét đó là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện, bị cáo là lao động tự do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hiện đang bị tạm giam, không có tài sản riêng và khả năng thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành điều tra, xác minh về người đàn ông bán ma túy cho bị cáo nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước khi thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Lang Văn Đ chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến ma túy, nên bị cơ quan chức năng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định.
Người thân của bị cáo không biết sự việc bị cáo cất giấu ma túy để nhằm mục đích sử dụng, do đó cơ quan chức năng không xem xét trách nhiệm là có căn cứ, đúng quy định.
[7] Về vật chứng: Khối lượng ma túy 0,04g (không phẩy không bốn gam) thu được từ bị cáo và Lang Văn Đ đã được gửi đi giám định hết không hoàn lại, số vật chứng còn lại gồm bơm kim tiêm bằng nhựa, mảnh giấy bạc cùng vỏ bao niêm phong cũ là những vật không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Chiếc ví da thu giữ của bị cáo Hoàng Văn T được xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo yêu cầu được xem xét trả lại, do đó cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu REALME màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Hoàng Văn T và 01 (một) chiếc điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu VIVO màu xanh – đen đã qua sử dụng thu giữ của Lang Văn Đ, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và Đ thừa nhận sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định.
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu trắng - đen - bạc, số loại WAVE@ biển kiểm soát 37G1-151.61, xe đã qua sử dụng được xác định là tài sản hợp pháp của gia đình Lang Văn Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội, quá trình điều tra cơ quan điều tra Công an đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định, nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 17/4/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm: 01 (một) bơm kim tiêm bằng nhựa, 01 mảnh giấy bạc màu trắng và các vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào 01 (một) phong bì thư dán kín mặt trước ghi: “Vật chứng còn lại thuộc vụ Hoàng Văn T và Lang Văn Đ - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 17/4/2024 tại xã C, chuyện Q, tỉnh Nghệ An”...
- - Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) chiếc ví da màu đen.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại cảm ứng nhãn hiệu REALME, màu vàng, IMEI1 869720065453873, IMEI2 869720065453865, có gắn thẻ sim, không kiểm tra chất lượng bên trong thu của bị cáo Hoàng Văn T và 01 (một) chiếc điện thoại cảm ứng nhãn hiệu VIVO, màu xanh – đen, có gắn thẻ sim, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong thu của Lang Văn Đ.
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao, nhận vật chứng, lập ngày 29/7/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An)
- Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hoàng Văn T chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Văn Đông |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T có 01 tiền án về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" chưa được xóa án tích, tiếp tục bị bắt quả tang tàng trữ 0,02g ma túy Heroine để sử dụng
