|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2024/HS-ST Ngày 19-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phẩm
Ông Lê Thành Tam
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1985 tại thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở hiện nay: ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn G (chết) và bà Nguyễn Thị B (chết); có chồng Trần Minh L; có 02 con (lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2022); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đã được xóa; hiện bị cáo đang tại ngoại và hiện có mặt tại điểm cầu thành phần Hội trường Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị hại: Bà Thái Thị T, sinh năm 1992 (xin vắng mặt)
Nơi thường trú: ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Chỗ ở hiện nay: Khóm A, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 18/3/2024, bị cáo Nguyễn Thị Yến N điều khiển xe mô tô biển số 64B2 - 065.48 đến Cửa hàng “Thế giới sữa AZ Milk” của chị Thái Thị T, sinh năm 1992, thuộc Khóm A, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long để mua tã cho con. Khi vào gian hàng, bị cáo N chỉ cho chị T lấy 01 (một) bịch tã hiệu Mijuku và kêu chị T đi tính tiền. Lúc này bị cáo N nhìn thấy 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu vàng gold để trên thùng bánh, cách bị cáo N đứng khoảng 01 (một) mét nên nảy sinh ý định lấy trộm. N lén lút dùng tay phải, lấy điện thoại bỏ vào túi quần bên phải, đi đến quầy thanh toán tiền và điều khiển xe về nhà. Sau khi phát hiện tài sản bị mất thì chị T đã trích xuất camera cửa hàng, phát hiện người lấy trộm là bị cáo N nên đã trình báo đến Công an thị trấn C, huyện M. Ngày 19/3/2024 Công an thị trấn C mời bị cáo N về làm việc. Qua làm việc thì bị cáo N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đã giao nộp điện thoại đã trộm được.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 04/KLĐGTS ngày 02/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện M kết luận:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu vàng gold, số máy: MLL83VN/A, số sê-ri: GQWR9227WD, số I: 353324652699429, có ốp lưng bằng nhựa, màu vàng có hình con mèo và hình đồng xu màu vàng, đã qua sử dụng, mua vào ngày 21/5/2022 với giá 29.000.000₫ x 60% giá trị còn lại là: 17.400.000 đồng.
Ngày 15/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Yến N, về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Thị Yến N đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
*Vật chứng đã thu giữ và xử lý:
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng gold, số máy: MLL83VN/A, số sê-ri: GQWR9227WD, số I: 353324652699429, có ốp lưng màu vàng có hình con mèo và hình đồng xu màu vàng, điện thoại đã qua sử dụng. Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã chứng minh đây là tài sản của chị Thái Thị T. Hiện nay chị T đã nhận lại xong.
- 01 (một) cái quần dài bằng vải thun, màu xanh, họa tiết màu đen; 01 (một) cái áo tay ngắn, bằng vải thun họa tiết với quần; 01 (một) cái áo khoác tay dài, bằng vải thun màu xám, trên ngực áo có in dòng chữ “CHANEL”; 01 (một) cái khẩu trang bằng vải, màu hồng; 01 (một) cái nón bảo hiểm bằng nhựa, màu trắng họa tiết hoa hồng, tất cả đều đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô biển số: 64B2-065.48, số máy: FMH200339474, số khung: HL02Y1039474, nhãn hiệu: LONCIN, số loại: C110, màu sơn: xanh đen, xe đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã chứng minh đây là tài sản của bị cáo N, không liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho bị cáo N xong.
*Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại Thái Thị T đã nhận lại tài sản xong, không có yêu cầu bồi thường.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Yến N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKS.HMT, ngày 29/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Nguyễn Thị Yến N về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Yến N đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Yến N phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.
- - Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập.
- - Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét giải quyết.
- - Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
- - Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị Yến N, do bị cáo N thuộc hộ cận nghèo theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Yến N khai nhận: Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 18/3/2024, bị cáo Nguyễn Thị Yến N điều khiển xe mô tô biển số 64B2 - 065.48 đến Cửa hàng “Thế giới sữa AZ Milk” của chị Thái Thị T, sinh năm 1992, thuộc Khóm A, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long để mua tã cho con. Khi vào gian hàng, bị cáo N chỉ cho chị T lấy 01 (một) bịch tã hiệu Mijuku và kêu chị T đi tính tiền. Lúc này bị cáo N nhìn thấy 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu vàng gold để trên thùng bánh, cách bị cáo N đứng khoảng 01 (một) mét nên nảy sinh ý định lấy trộm. Bị cáo N lén lút dùng tay phải, lấy điện thoại bỏ vào túi quần bên phải, đi đến quầy thanh toán tiền và điều khiển xe về nhà, tài sản bị cáo N chiếm đoạt có giá trị là 17.400.000 đồng. Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ được và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Thị Yến N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được luật hình bảo vệ, đó là quyền sở hữu về tài sản. Bị cáo vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân, bị cáo lại không tích cực lao động sản xuất để có thu nhập hợp pháp, mà có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác làm của riêng mình, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vẫn quyết tâm thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật, gây bất bình trong xã hội, làm mất trật tự ở địa phương. Vì thế cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, bị cáo có khả năng tự cải tạo. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập.
[6] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
[8] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[9] Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị Yến N, do bị cáo N thuộc hộ cận nghèo theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Yến N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Yến N 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- - Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị Yến N.
- Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo được quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Bích |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Ngọc B1
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
