|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 58/2024/DS-ST
Ngày: 19-4-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú
Các hội thẩm nhân dân:Bà Vũ Thị Mai;
Ông Nguyễn Văn Lương.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Phương Ly - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa.
Trong các ngày 21 tháng 3 và ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử công khai sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 65/2023/TLST-DS ngày 14/4/2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 352/2023/QĐXXST- DS ngày 22 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2024/QÐST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 33/2023/QÐST-DS ngày 22 tháng 02 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên toà số 74/2024/QĐST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S; Trụ sở: Lầu 8, số B - B N, phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đại L (Theo Giấy uỷ quyền số 414/2022/UQ-TGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2022) (Ông L có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trần V, sinh năm 1978; HKTT: Số A P, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Số I ngách B V, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội (Ông V vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S trình bày:
Ngày 26/3/2012, ông Nguyễn Trần V đã ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP S. Căn cứ thu nhập của ông V, Ngân hàng TMCP S đã cấp thẻ tín dụng số 970403-9546 với hạn mức thẻ tín dụng là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) cho ông V. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, kể từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay, ông V đã thực hiện các
giao dịch với tổng số tiền là 101.000.000 đồng; ông V đã thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền 109.375.818 đồng (Thứ tự thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, số tiền thanh toán sẽ trừ lãi, phí trước, sau đó trừ tiếp vào giao dịch; kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau).
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở, ông V vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán, từ ngày 23/3/2015, Ngân hàng TMCP S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 22/12/2023, ông V còn nợ Ngân hàng TMCP S tổng số tiền: 460.336.461 đồng. Trong đó:
- - Nợ gốc: 86.753.637 đồng
- - Nợ lãi: 373.582.824 đồng
Ngân hàng TMCP V1 yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Nguyễn Trần V phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/12/2023 là: 460.336.461 đồng.
- Ông Nguyễn Trần V có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 23/12/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Đối với bị đơn là ông Nguyễn Trần V, Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông V không đến Tòa để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự nên Tòa án không thể lấy được lời khai của ông V cũng như tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa:
Đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP S giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện:
- Buộc ông Nguyễn Trần V phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/4/2024 là: 473.241.059 đồng, trong đó:
- - Nợ gốc: 86.753.637 đồng
- - Nợ lãi quá hạn: 386.487.422 đồng
- Buộc ông V phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 20/4/2024 cho đến khi thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
- Các đương sự khác vắng mặt; HĐXX công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xuất phát từ hợp đồng dân sự về việc yêu cầu thanh toán tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng ký kết giữa một bên là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh và một bên là cá nhân không có đăng ký kinh doanh; Căn cứ
khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng, xác định vụ án dân sự, quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Thẩm quyền: Ông Nguyễn Trần V có hộ khẩu thường trú tại Số A P, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội và có nơi cư trú khi ký hợp đồng tín dụng tại số I ngách B V, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Theo các biên bản làm việc với Công an phường N và Công an phường L, ông V không còn sinh sống tại cả hai địa chỉ nêu trên. Như vậy, trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông V đã chuyển đi nơi khác mà không thông báo lại cho Ngân hàng nên địa chỉ số I ngách B V, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội được xác định là nơi cư trú cuối cùng của ông V. Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý, giải quyết và xét xử là đúng thẩm quyền.
- Thủ tục: Tại hợp đồng tín dụng ký giữa Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Trần V thể hiện ông V có hộ khẩu thường trú tại Số A P, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội và có nơi cư trú tại số I ngách B V, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân quận Đống Đa thông qua cơ quan thừa phát lại đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án đến địa chỉ số A P, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội và số I ngách B V, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, theo các biên bản làm việc giữa cơ quan thừa phát lại và Công an phường N, Công an phường L, ông V không còn cư trú tại các địa chỉ nêu trên. Việc ông V chuyển đi không được thông báo lại cho nguyên đơn và nguyên đơn cũng không biết được địa chỉ mới của ông V. Khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.” Trong trường hợp này, ông V đã không thông báo địa chỉ mới của mình cho Ngân hàng TMCP S. Do đó, đây được coi là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ vào điểm a, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự bao gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng đến nay Tòa án vẫn không nhận được bất kỳ thông tin nào của ông V, ông V không có phản hồi gì đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Vì vậy, căn cứ theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án không tiến hành hòa giải được. Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Nguyễn Trần V.
[2] Về nội dung:
2.1. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, xác định Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Trần V đã ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm
hợp đồng ngày 26/3/2012. Ngày 28/3/2012, Ngân hàng TMCP S đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Trần V, với hạn mức tín dụng được phê duyệt là 100.000.000 đồng.
Xét thấy: Việc ký hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Trần V trên cơ sở tự nguyện; Hình thức, nội dung của Hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 121, 122, 123, 124, Điều 388, 402, 471 Bộ luật dân sự 2005; do đó, các thoả thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật có hiệu lực, các bên có quyền, nghĩa vụ thực hiện các nội dung đã thoả thuận trong hợp đồng.
2.2. Xét yêu cầu thanh toán nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng:
Hội đồng xét xử nhận định: Sau khi ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/3/2012, ngày 28/3/2012, Ngân hàng TMCP S đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Trần V, với hạn mức tín dụng được phê duyệt là 100.000.000 đồng. Kể từ ngày kích hoạt thẻ, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền giao dịch là 101.000.000 đồng. Như vậy, có đủ căn cứ để xác nhận Ngân hàng TMCP S đã giải ngân cho ông V số tiền 101.000.000 đồng; Quá trình thực hiện hợp đồng, ông V đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 109.375.818 đồng (Thứ tự thanh toán áp dụng theo mục 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, số tiền thanh toán sẽ trừ lãi, phí trước, sau đó trừ tiếp vào giao dịch; kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau). Theo bản sao kê của Ngân hàng cung cấp, Ngân hàng đã tính gộp lãi hàng tháng và phí trễ hạn vào gốc, xác định đó là tiền gốc để tính lãi tháng sau là không đúng với quy định của pháp luật. Sau khi tính toán lại, HĐXX xác định số tiền gốc ông V còn nợ Ngân hàng là 54.967.333 đồng.
Ông V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP S nên từ ngày 25/3/2015, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông V và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 19/4/2024, ông Nguyễn Trần V còn nợ Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc 54.967.333 đồng. Do đó, căn cứ Điều 290, 291, 474 Bộ luật Dân sự 2005 buộc ông Nguyễn Trần V phải trả Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc trên.
2.3. Xét yêu cầu thanh toán nợ lãi, phí theo Hợp đồng tín dụng:
Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký giữa Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Trần V, các bên có thỏa thuận:
- Lãi suất trong hạn: Theo mức lãi suất được công bố tại từng thời kỳ. Theo Thông báo số 314/TB-TTT ngày 22/5/2012 của Trung tâm thẻ Ngân hàng TMCP S, mức lãi suất được áp dụng trước ngày 23/5/2012 là 2.75%/tháng, mức lãi suất được áp dụng từ ngày 23/5/2012 là 2.5%/tháng.
- Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại.
Hội đồng xét xử nhận định: Thỏa thuận về mức lãi suất Ngân hàng TMCP S áp dụng đối với ông V tại Hợp đồng là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên; phù hợp với các Thông báo thay đổi lãi suất thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S; Điều
290, 291, 305, 422, 474, 476 Bộ luật dân sự 2005; phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.
Xét số tiền nợ lãi theo tóm tắt sao kê của Ngân hàng TMCP S: Theo sao kê của ngân hàng, Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn và chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng của ông V từ ngày 23/3/2015. Tuy nhiên, theo bảng sao kê này, ông V đã vi phạm nghĩa vụ từ ngày 21/4/2012. Tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng quy định như sau: “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ phát hành Thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp đồng. Trong trường hợp này, toàn bộ tổng dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và chủ thẻ phải thanh toán”; “khi sự kiện vi phạm xảy ra chủ thẻ hiểu và đồng ý rằng tòa án nhân dân phát hành thẻ có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau:
- Chấm dứt quyền sử dụng thẻ và tiến hành thu hồi toàn bộ nợ....”
Căn cứ theo thỏa thuận trên thì nếu ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán số tiền tối thiểu thì tổng dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức. Theo phần trình bày của Ngân hàng TMCP S, ngày chốt nợ thanh toán là ngày 20 hàng tháng, kể từ tháng 8/2013, ngày chốt nợ là ngày 22 hàng tháng. Tại kỳ thanh toán tháng 5/2012, ông V đã bị tính phí trễ hạn, tức là ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với ngân hàng kể từ ngày 21/4/2012. Việc ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng của ông V từ ngày 23/3/2015 là sự lựa chọn của nguyên đơn nên HĐXX chấp nhận sự lựa chọn của nguyên đơn, xác định ngày Ngân hàng chuyển nợ quá hạn là ngày 23/3/2015. Vì vậy, số tiền lãi trong hạn ông V phải trả Ngân hàng TMCP S là: 5.393.800 đồng; số tiền lãi quá hạn ông V phải trả Ngân hàng TMCP S là: 249.180.280 đồng. Căn cứ Điều 290, 305 Bộ luật Dân sự 2005, buộc ông Nguyễn Trần V phải trả Ngân hàng TMCP S số tiền lãi nêu trên.
Đối với khoản phí trễ hạn ông V phải trả Ngân hàng TMCP S: Mục 24 Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ 01/6/2010 quy định: “Bên cạnh lãi suất, Chủ Thẻ còn phải trả các loại phí liên quan đến Thẻ, bao gồm nhưng không giới hạn các loại phí sau đây: ....g) Phí chậm thanh toán... Chi tiết các loại phí được quy định trong Biểu phí của Đơn vị phát hành thẻ. Biểu phí là một phần không thể tách ròi của Các Điều Khoản và Điều Kiện này...”. Như vậy, các bên có thoả thuận về việc áp dụng phí trễ hạn. Tuy nhiên, theo hồ sơ khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, Ngân hàng đã không nộp kèm biểu phí này trong hồ sơ khởi kiện. Tại phiên tòa ngày 19/3/2024, HĐXX đã tạm ngừng phiên tòa yêu cầu Ngân hàng TMCP S giao nộp biểu phí nêu trên để làm cơ sở tính mức phí trễ hạn. Tuy nhiên, đến phiên tòa ngày 19/4/2024, Ngân hàng TMCP S vẫn không giao nộp được biểu phí nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng TMCP S.
[3]. Về án phí: Do các yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận một phần nên Ngân hàng TMCP S phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận và không phải chịu án phí đối với phần yêu cầu được chấp nhận; Bị đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu nguyên đơn được chấp nhận.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Điều 121, Điều 122, Điều 123, Điều 124, Điều 290, Điều 291, Điều 305, Điều 388, Điều 402, Điều 422, Điều 471, Điều 474, Điều 476 Bộ luật dân sự 2005.
- - Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
- - Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với ông Nguyễn Trần V về việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/3/2012 đối với khoản tiền gốc, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn.
- Xác nhận tính đến ngày 19/4/2024, ông Nguyễn Trần V còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền gốc 54.967.333 đồng (Năm mươi bốn triệu, chín trăm sáu mươi bảy nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng); nợ lãi trong hạn: 5.393.800 đồng (Năm triệu, ba trăm chín mươi ba nghìn, tám trăm đồng); nợ lãi quá hạn: 249.180.280 đồng (Hai trăm bốn mươi chín triệu, một trăm tám mươi nghìn, hai trăm tám mươi đồng). Tổng cộng số tiền là 309.541.413 đồng (Ba trăm linh chín triệu, năm trăm bốn mươi mốt nghìn, bốn trăm mười ba đồng).
- Buộc ông Nguyễn Trần V phải trả Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 309.541.413 đồng (Ba trăm linh chín triệu, năm trăm bốn mươi mốt nghìn, bốn trăm mười ba đồng).
- Buộc ông Nguyễn Trần V tiếp tục trả tiền lãi từ ngày 20/4/2024 của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
* Án phí: Ông Nguyễn Trần V phải chịu 15.477.070 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng TMCP S phải chịu 8.184.982 đồng án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ngân hàng TMCP S đã nộp. Sau khi khấu trừ, hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 2.067.018 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0071749 ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa.
Ngân hàng Thương mại cổ phần S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Ông Nguyễn Trần V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Tú |
Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Số bản án: 58/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
