Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC QUANG

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày 18 - 09 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Hải Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Diện
Bà Quốc Thị Thanh Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chữ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 09 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/HSST-QĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Hà Văn T (Tên gọi khác: không), sinh ngày 13 tháng 07 năm 1992 tại tại huyện B, tỉnh Hà Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: thôn V, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 07/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; có vợ là Hoàng Thị Thảo B và 03 con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/05/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt)

Người làm chứng: Hoàng Văn T3, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 20/5/2024, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện B phối hợp với công an xã V, huyện B tiến hành tuần tra, kiểm soát phát hiện tại đường liên thôn thuộc thôn V, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang có 02 thanh niên điều khiển xe mô tô BKS 21BA – 094.40 gồm người điều khiển là Hoàng Văn T3 chở người ngồi sau là Hà Văn T có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện tại túi quần bên phải phía trước của T có 02 (hai) gói giấy bạc, bên trong chứa chất dạng bột, dạng cục màu trắng nghi là ma túy Heroine. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tiến hành thu giữ 02 (hai) gói giấy bạc, bên trong chứa chất dạng bột, dạng cục màu trắng nghi là ma túy Heroine để điều tra làm rõ. Cùng ngày, tổ công tác có lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Hà Văn T tại thôn V, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Quá trình khám xét người, chỗ ở của T không thu giữ được thêm đồ vật, tài liệu nào khác.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện B, T khai nhận: Trưa ngày 20/5/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết từ xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang sang thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái để tìm mua ma túy Heroine về sử dụng. Khi đến nơi, T đi bộ quanh thị trấn Y để tìm mua ma túy, đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T đi đến khu vực nghĩa trang, gần bệnh viện đa khoa thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái thì gặp một người đàn ông không quen biết (không rõ tên tuổi, địa chỉ) khoảng 40 tuổi, dáng người cao gầy, mặc áo khoác kín đang sử dụng ma túy. Thức hỏi người này có ma túy bán không, bán cho T 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), vừa nói T vừa đưa cho người này 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) gồm 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), người đàn ông đồng ý nhận tiền rồi đưa cho T 02 (hai) gói giấy bạc, bên trong chứa chất dạng bột, dạng cục màu trắng là ma túy Heroine. Mua xong, T cất 02 (hai) gói ma túy vào túi quần bên phải phía trước rồi đi bắt xe về nhà. Khi đi bộ được một đoạn, T gặp một người thanh niên, đang điều khiển xe mô tô BKS 21BA – 094.40 (sau này T biết là Hoàng Văn T3) nên T nhờ và được T3 đồng ý cho đi cùng để về xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Khi đi đến đường liên thôn thuộc thôn V, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang thì T bị tổ công tác công an huyện B kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Ngày 21/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang phối hợp với trạm y tế thị trấn V, huyện B tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Hà Văn T, kết quả: Thức dương tính với ma túy, loại ma túy Heroine.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành mở niêm phong, cân tịnh khối lượng chất dạng bột, dạng cục màu trắng nghi là ma túy Heroine thu giữ của Hà Văn T khi bắt quả tang xác định:

  • - Gói 01: kích thước 1,2 x 0,7 cm (Mẫu ký hiệu A1) có khối lượng là 0,113 gam (Không phẩy một trăm mười ba gam).
  • - Gói 02: kích thước 02 x 01 cm (Mẫu ký hiệu A2) có khối lượng là 0,199 gam (Không phẩy một trăm chín mươi chín gam).

Tổng 02 (hai) gói có khối lượng: 0,312 gam (Không phẩy ba trăm mười hai gam).

Tại Kết luận giám định số 187/KL-KTHS ngày 29/5/2024, Phòng K Công an tỉnh H kết luận:

02 (hai) mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A2 đều là ma túy, loại Heroine (H), có tổng khối lượng là 0,312 gam (Không phẩy ba trăm mười hai gam).

Heroine (H) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Với hành vi trên, tại Cáo trạng số 51/CT-VKSBQ ngày 12/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố Hà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, bị cáo Hà Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu.

Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Hà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Về điều luật và hình phạt: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu, tiêu hủy: 03 phong bì màu trắng mẫu hoàn lại sau giám định và các vỏ bao gói. Về án phí, đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị trong bản luận tội. Bị cáo lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, điều tra viên, kiểm sát viên của huyện B trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng, nhưng trước đó họ đã có đầy đủ lời khai có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo Hà Văn T tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng của vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản, bản ảnh cân tịnh vật chứng, biên bản xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu, tài liệu hiện trường, kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh H cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 20/5/2024, Hà Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,312 gam (Không phẩy ba trăm mười hai gam) ma túy loại Heroin trên người với mục đích để sử dụng. Như vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố bị cáo Hà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo buộc phải hiểu chất ma túy là chất gây nghiện nghiêm trọng, hủy hoại sức khỏe của người mắc nghiện. Ma túy còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Tuy nhiên do bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Do đó cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, mặt khác nhằm răn đe, phòng ngừa và làm gương cho kẻ khác.

[5] Đối với nguồn gốc số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang, Hà Văn T khai nhận mua của 01 (một) một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi, dáng người cao gầy, mặc áo khoác kín với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tại khu vực nghĩa trang thuộc thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái vào khoảng 21 giờ ngày 20/5/2024. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện B đã tiến hành xác minh tại Công an thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái nhưng không xác định được người bán ma túy cho T như mô tả. Đối với Hoàng Văn T3, quá trình điều tra đã xác định giữa T3 và T không có mối quan hệ gì, khi T nhờ T3 chở T về xã V, huyện B, T không nói cho T3 biết việc trong người Thức đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét thêm.

[6] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà Văn T, ngày 10/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T là đúng quy định của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

[7] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

[8] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì mặt trước ghi “Mẫu hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2", 01 phong bì mặt trước ghi "Vỏ bao gói sau giám định", 01 phong bì mặt trước ghi "Toàn bộ vỏ bao gói sau cân tịnh vụ Hà Văn T ngày 20/05/2024", là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị sử dụng.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giữ (ngày 21/05/2024).
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy:
    • - 01 (một) phong bì màu trắng mặt trước phong bì ghi “Mẫu hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2” mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H.
    • - 01 (một) phong bì màu trắng mặt trước phong bì ghi "Vỏ bao gói sau giám định", mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H và.
    • - 01 (một) phong bì màu trắng mặt trước phong bì ghi "Toàn bộ vỏ bao gói sau cân tịnh vụ Hà Văn T ngày 20/05/2024", mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/08/2024 giữa cơ quan Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang).

  4. Về án phí: Bị cáo Hà Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân dự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hải Hà

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà giang;
  • - VKSND huyện Bắc Quang;
  • - Công an huyện Bắc Quang (02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Quang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Vĩnh Phúc, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang;
  • - Lưu HS, bộ phận.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ha Văn Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger