Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HS-ST

Ngày 17-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Sơn Ken

Ông Dương Văn Siêng

– Thư ký phiên tòa: Bà Tiết Thị Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Nở, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

- Dương Minh C, sinh ngày 01/01/1993; tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú ấp D, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi ở trước khi bị bắt: Số E, đường B Sông S, ấp A, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn V, sinh năm 1956 và bà Ông Thị M, sinh năm 1957); vợ tên Nguyễn Thị Kiều L, sinh ngày 15/6/1996; con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: Không có; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án và chưa bị xử lý hành chính lần nào; Bị khởi tố vào ngày 05/6/2023 và bị bắt tạm giam vào ngày 19/6/2023 cho đến nay, có mặt.

- Nguyễn Thị Kiều L, sinh ngày 15/6/1996; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Số B, đường T, ường"phường G, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Số E, đường B Sông S, ấp A, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Xi M1, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1967 (chết); chồng Dương Minh C, sinh ngày 01/01/1993; Con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án và chưa bị xử lý hành

2

chính lần nào; Bị khởi tố vào ngày 05/6/2023 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 13/10/2023, có mặt.

- Bị hại:

Ông Thạch Văn N, sinh năm 1979. Nơi cư trú ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nơi ở ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

Ông Nguyễn Văn B, sinh ngày 30/7/1978. Nơi cư trú ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nơi ở ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông Nguyễn Minh D, sinh năm 1980. Nơi cư trú ấp A, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông Kim Văn T, sinh ngày 06/02/1994. Nơi cư trú ấp L, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

- Người làm chứng:

Ông Đỗ Công L1, sinh ngày 22/12/2002. Địa chỉ số I, đường T, ường"Phường I, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

Bà Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 06/11/1996. Địa chỉ ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nơi ở số E, đường H, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do thất nghiệp và không có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Dương Minh C bàn bạc và rủ vợ là bị cáo Nguyễn Thị Kiều L đi xuống huyện T, tỉnh Trà Vinh để trộm xe ba gác (loại xe ba bánh) để bán lấy tiền tiêu xài, bị cáo L đồng ý. Sau đó, bị cáo L rủ thêm hai người bạn tên Đỗ Công L1, sinh ngày 22/12/2002 nơi thường trú: Số I, đường T, ường"P 9, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (nơi ở hiện tại: Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh) và Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 06/11/1996 nơi thường trú: Ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nơi ở hiện tại: Số E, đường H, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) đi cùng. Qua quá trình điều tra, xác minh đã chứng minh được hai bị cáo C và L thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản đối với 04 chiếc xe ba gác trên địa bàn huyện T, tỉnh Trà Vinh, cụ thể như sau:

- Vụ thứ nhất: Vào đêm 25 rạng sáng ngày 26/11/2022, bị cáo Dương Minh C điều khiển xe mô tô, biển số: 61S4 - 2802 chở bị cáo Nguyễn Thị Kiều L; Đỗ Công L1 điều khiển xe mô tô (không rõ nhãn hiệu, biển số) chở Nguyễn Ngọc Thiên K đi từ Thànhphố H đến huyện T, tỉnh Trà Vinh do bị cáo C dẫn đường, khi đến ngã ba thuộc ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Lúc này, bị cáo C nói với L1 và Kim đứng đợi gần đó, còn bị cáo C và bị cáo L tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến cửa hàng vật liệu xây dựng “Quang” của ông Nguyễn Văn B, sinh ngày: 30/7/1978 nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Sau đó, bị cáo L đứng đợi ở bên ngoài nhằm mục đích cảnh giới cho bị cáo C. Sau đó, bị cáo C lén lút đi đến khu vực nhà kho phát hiện 01 xe ba bánh, màu đỏ (không rõ nhãn hiệu, biển số) đổ bên trong và nhà kho có khóa nên bị cáo C trực tiếp dùng kiềm cộng lực có sẵn tại đó, cắt cửa đột nhập vào nhà kho lấy trộm chiếc xe nêu trên. Sau đó, bị cáo C điều khiển xe vừa trộm

3

được (xe có sẵn chìa khóa trên xe) đến gặp những người đứng đợi và chạy về nhà trọ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo C đem chiếc xe ba bánh vừa trộm được bán cho một người tên thường gọi là “B1” (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) ở khu vực huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 7.500.000 đồng. Sau đó, bị cáo C đưa tiền cho bị cáo L và cả hai cùng tiêu xài cá nhân hết.

- Vụ thứ hai: Vào đêm 05 rạng sáng ngày 06/01/2023, bị cáo Dương Minh C điều khiển xe mô tô, biển số: 61S4 - 2802 chở bị cáo Nguyễn Thị Kiều L; Đỗ Công L1 điều khiển xe mô tô (không rõ nhãn hiệu, biển số) chở Nguyễn Ngọc Thiên Kim k đến ngã ba thuộc ấp C, xã T, huyện T, bị cáo C nói với L1 và Kim đứng đợi, còn bị cáo C và bị cáo L tiếp tục điều khiển xe mô tô chạy về hướng xã A tìm xe để lấy trộm, đi đến ấp L, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Hai bị cáo phát hiện nhà ông Kim Văn T, sinh ngày: 06/02/1994 nơi thường trú và nơi ở hiện tại: ấp L, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh có 01 chiếc xe ba bánh, màu xanh (không rõ nhãn hiệu, biển số) đổ trong chòi lá không ai trông coi và quản lý. Sau đó, bị cáo C trực tiếp lén lút đi vào chòi lá, còn bị cáo L đứng bên ngoài cảnh giới, chở bị cáo C tẩu thoát nếu bị phát hiện. Khi vào chòi lá bị cáo C đẩy xe ra ngoài và điều khiển xe vừa trộm (xe có chìa khóa sẵn trên xe) về nhà trọ tại Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo L, L1 và K chạy theo sau. Sau đó, bị cáo C cùng bị cáo L đem xe bán cho một người tên thường gọi là “B1” (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) ở khu vực huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 8.000.000 đồng và cả hai tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.

- Vụ thứ ba: Vào đêm 10 rạng sáng ngày 11/01/2023, bị cáo Dương Minh C tiếp tục điều khiển xe mô tô, biển số: 61S4 - 2802 chở bị cáo Nguyễn Thị Kiều L; Đỗ Công L1 điều khiển xe mô tô (không rõ nhãn hiệu, biển số) chở Nguyễn Ngọc Thiên K do bị cáo C dẫn đường đến huyện T, tỉnh Trà Vinh tìm xe ba gác lấy trộm. Khi đến địa bàn huyện T thì xe của L1 và K bị hỏng nên bị cáo C kêu L1 và Kim đứng đợi ở đây. Còn bị cáo C tiếp tục cùng với bị cáo L đi đến cửa hàng vật liệu xây dựng “Quang” của ông Nguyễn Văn B, sinh ngày: 30/7/1978 nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh để lấy trộm xe. Khi đến nhà ông B, bị cáo C phát hiện tại nhà kho có 01 xe ba bánh, màu xanh (không rõ nhãn hiệu, biển số). Lúc này, bị cáo C kêu bị cáo L đứng ngoài cảnh giới còn bị cáo C đột nhập vào nhà kho lấy trộm xe ba bánh, sau đó bị cáo C điều khiển xe vừa trộm được (xe có chìa khóa sẵn trên xe) cùng bị cáo L chạy đến gặp L1 và K, tất cả cùng chạy về nhà trọ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, bị cáo C và bị cáo L đem xe vừa trộm được đi bán cho người tên “B1” (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) ở khu vực huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh được số tiền 7.500.000 đồng và đã tiêu xài hết.

- Vụ thứ tư: Vào đêm 31/01 rạng sáng ngày 01/02/2023, bị cáo Dương Minh C điều khiển xe mô tô, biển số: 61S4 - 2802 chở bị cáo Nguyễn Thị Kiều L đi đến huyện T, tỉnh Trà Vinh tìm kiếm xe ba gác để lấy trộm. Khi đến đoạn đường nhựa thuộc ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh thì phát hiện trong nhà kho phía sau của ông Thạch Văn N, sinh ngày: 07/9/1979 nơi thường trú: ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nơi ở hiện tại: ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh) có một xe ba bánh, màu xanh, biển số: 60Y2 - 2572, nên bị cáo Dương Minh C kêu bị cáo L đứng ngoài cảnh giới, còn bị cáo C trực tiếp lén lút đi vào nhà kho lấy trộm một xe ba bánh màu xanh của ông N. Sau đó, bị cáo C dùng kéo cắt dây nguồn và khởi động điều khiển xe vừa trộm được cùng bị cáo L về đến nhà trọ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc này, bị cáo C dùng sơn xịt để sơn lại xe

4

ba bánh vừa trộm được và liên hệ bán cho người có nick Z tên “N1” với giá 25.000.000 đồng, bị cáo C là người trực tiếp giao nhận xe (nhưng không giao biển số), còn bị cáo L nhận chuyển tiền của người mua qua tài khoản Ngân hàng của L. Sau đó, cả hai tiêu xài cá nhân hết 5.000.000 đồng, còn lại 20.000.000 đồng giao nộp cho Cơ quan điều tra sau khi bị phát hiện và mời làm việc.

Ngoài ra, các bị cáo C và bị cáo L còn thực hiện hành vi trộm tài sản trên địa bàn huyện M, tỉnh Bến Tre thì bị phát hiện, cụ thể như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 06/02/2023, bị cáo C chở bị cáo L từ nơi thuê trọ ở số 184/20/27, Bùi Văn N2, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh bằng xe mô tô, biển số: 61S4 - 2802 nhằm mục đích đến huyện T, tỉnh Trà Vinh tìm xe ba gác ba bánh để trộm, khi đi bị cáo C mang theo 01 biển số: 60Y2 - 2572, trên đoạn đường từ xã A đến xã L, bị cáo C không tìm được xe ba gác mà phát hiện một xe mô tô, loại EXCITER, màu xanh (không biết biển số) dựng cặp lộ nhựa không có người trong coi quản lý. Sau đó, bị cáo C nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe nêu trên nên đã lén lút đi đến vị trí chiếc xe đang dựng dẫn xe đi được một đoạn khoảng 15m thì bị người dân phát hiện, rồi bị cáo C lên xe mô tô chở bị cáo L chạy về hướng Thành phố Hồ Chí Minh.

Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 07/02/2023, khi đến tuyến đường tránh Quốc lộ F, thuộc ấp A, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre. Bị cáo C phát hiện 01 chiếc xe ba bánh, biển số: 61L7 - 0265, nhãn hiệu YINXIANG, không có số khung, số máy 162MK-21H004506 của ông Nguyễn Minh D, sinh năm: 1989 nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Áp A, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre để trước cửa nhà bên trái, cặp quốc lộ theo hướng đi, bị cáo C đi đến kiểm tra thấy đuôi chiếc xe khóa vào cột nhà bằng một sợi dây xích bằng kim loại, hai đầu dây xích không dùng ổ khóa mà dùng dây vải buộc lại, bị cáo C tháo dây vải ra, đẩy xe ra ngoài Quốc lộ (do xe không có chìa khóa nên bị cáo C bứt dây điện khởi động được chiếc xe), rồi điều khiển về hướng vòng xoay Đ, rẽ phải vào thị trấn M, qua cầu M đi thẳng gần đến cầu H, ghé vào cây xăng bỏ hoang bên trái theo hướng đi, bị cáo C dùng biển số: 60Y2 - 2572 gắn đè lên biển số: 61L7 - 0265. Sau đó, tiếp tục điều khiển xe di chuyển về hướng cầu R để về Thành phố Hồ Chí Minh, còn bị cáo L điều khiển xe mô tô, biển số: 61S4 - 2802 đi cùng chạy theo phía sau. Khi đến địa bàn xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre thì bị Tổ tuần tra Công an xã T dừng xe kiểm tra phát hiện. Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm trong các vụ án nêu trên.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 10/KL-HĐĐGTS, ngày 31/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận:

  • Tại thời điểm ngày 25/11/2022: 01 (một) xe ba bánh màu đỏ, loại xe tự đổ, xe tự lắp ráp, xe không được chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, xe không được đăng ký, xe đã qua sử dụng, có giá là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

- Tại thời điểm ngày 05/01/2023: 01 (một) xe ba bánh màu xanh, loại xe tự đổ, xe tự lắp ráp, xe không được chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, xe không được đăng ký, xe đã qua sử dụng, có giá là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

5

  • Tại thời điểm ngày 10/01/2023: 01 (một) xe ba bánh màu xanh, loại xe tự đổ, xe tự lắp ráp, xe không được chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, xe không được đăng ký, xe đã qua sử dụng, có giá là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
  • Tại thời điểm ngày 31/01/2023: 01 (một) xe ba bánh màu xanh, loại xe tự đổ, xe tự lắp ráp, xe không được chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, xe không được đăng ký xe đã qua sử dụng, có giá là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HĐĐGTS ngày 11/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M, tỉnh Bến Tre, kết luận: 01 (một) xe mô tô ba bánh, biển số: 61L7 - 0265, nhãn hiệu YINXIANG, không có số khung, số máy 162MK-21H004506, đã qua sử dụng có giá trị vào ngày 07/02/2023 là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Tổng giá trị tài sản các bị cáo C và bị cáo L thực hiện hành vi trộm cắp có giá trị là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

Căn cứ Bản kết luận giám định số: 107/2023/KL-KTHS ngày 07 tháng 3 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận số khung, số máy xe mô tô ba bánh, biển số: 61L7 - 0265:

  • Số khung trước và sau khi giám định: Không số.
  • Số máy trước giám định: 162MK-21H004506. Số máy sau giám định: Không bị tẩy xóa, đục sửa.

Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Các ngày 20/02/2023 và ngày 01/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu gồm:

  • Tiền Việt Nam 20.000.000 đồng của bị cáo Dương Minh C.
  • 01 (một) cây kiềm cộng lực, cán bằng kim loại, màu xanh.
  • 01 (một) biển số: 60Y2 - 2572.
  • 01 (một) túi xách không nhãn hiệu bên trong chứa một số phụ tùng sửa xe gắn máy, gồm: búa, chìa khóa cỡ 15, cỡ 17, lưỡi cưa sắt.
  • 01 (một) xe mô tô, biển số: 61S4 - 2802.
  • 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số 021457.

Hiện tại các vật chứng nêu trên đang quản lý tại Kho vật chứng Nhà tạm giữ Công an huyện T. Riêng đối với số tiền 20.000.000 đồng đang quản lý tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú theo biên lai số 0002496 ngày 19/9/2023.

Đối với Đỗ Công L1 và Nguyễn Ngọc Thiên K có đi cùng bị cáo C và bị cáo L trong ba vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện T, với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 15.000.00 đồng. Tuy nhiên, qua quá trình điều tra làm rõ L1 và K không có hành vi xúi giục, giúp sức, không có mặt trực tiếp tại hiện trường và chứng kiến các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản hay hưởng lợi ích vật chất gì trong các vụ trộm trên. Do đó, hành vi L1 và K không có vai trò đồng phạm cùng với bị cáo C và bị cáo

6

L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, L1 và K đi cùng và biết được bị cáo C và bị cáo L, có hành vi trộm cắp tài sản của người khác nhưng không tố giác tội phạm. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo C và bị cáo L thực hiện thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng nên hành vi của L1 và K không cấu thành tội không tố giác tội phạm theo quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với người tên “B1” là người trực tiếp mua xe mô tô ba bánh từ bị cáo C và bị cáo L với tổng số tiền là 23.000.000 đồng. Qua lời trình bày của bị cáo C và bị cáo L chỉ biết tên “B1” (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) nên Cơ quan điều tra chưa chứng minh được người tên “B1” là ai, họ tên và địa chỉ, không tạm giữ và thu hồi được ba chiếc xe mà “Bảo” mua của bị cáo C và bị cáo L, chưa làm rõ được hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Do đó, sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xem xét xử lý sau.

Đối với người tên “N1” là người trực tiếp mua một xe mô tô ba bánh từ bị cáo C với số tiền 25.000.000 đồng tại khu vực Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó “Nguyên” trả tiền bằng cách chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng vào tài khoản của bị cáo L. Qua điều tra xác minh tên họ đầy đủ của người thanh niên này là Lê Thanh N3, sinh năm: 1985 nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Cần Thơ, kết quả xác minh tại địa phương “Nguyên” không có mặt ở địa phương, đi đâu và làm gì không rõ địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không triệu tập làm việc được, không tạm giữ và thu hồi được tài sản một xe ba bánh “Nguyên” mua của bị cáo C và bị cáo L. Đồng thời, chưa làm rõ được hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Do đó, sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xem xét xử lý sau.

Ngoài ra, đối với chiếc xe mô tô, nhãn hiệu EXCITER bị cáo C trình bày lấy trộm trên địa bàn xã L nhưng không lấy được do bị phát hiện. Quá trình điều tra bị cáo C không xác định được hiện trường vụ án, không xác định được chủ sở hữu hay người quản lý chiếc xe. Qua thông báo truy tìm bị hại trên địa bàn xã L, Cơ quan điều tra không có tiếp nhận nguồn tin báo tố giác về tội phạm có liên quan đến chiếc xe mô tô, nhãn hiệu EXCITER của Quần chúng nhân dân và Công an xã L chuyển đến. Do đó, chưa làm rõ được vụ trộm nêu trên và tạm giữ được tài sản bị mất. Do đó, không có căn cứ để định giá tài sản, xác định giá trị tài sản bị thiệt hại để xử lý đối với hành vi của các bị cáo C và L. Vì vậy, sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

Riêng đối với xe mô tô, biển số: 61S4 - 2802 và giấy đăng ký xe mô tô số 021457 do bị cáo C và L sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Qua xác minh xe mô tô nêu trên do Nguyễn Văn Đ1, sinh năm: 1969 nơi thường trú: Số H, Lê Văn T1, khu phố B, phường A, Thành phố D, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, ông Đ1 khai chiếc xe trên ông bán cho một người (không biết tên và địa chỉ cụ thể). Việc các bị cáo sử dụng phương tiện nêu trên để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, ông Đ1 hoàn toàn không biết nên không xem xét xử lý trách nhiệm.

Còn đối với 01 biển số: 60Y2 - 2572. Qua tra cứu không có thông tin người đăng ký chủ sở hữu. Do đó, quá trình điều tra chưa làm rõ được nguồn gốc của biển số nêu trên, sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xem xét xử lý sau.Ngoài ra, đối với các vật chứng khác, quá trình điều tra xét thấy không có liên quan đến vụ án, không cần thiết tạm giữ nên Cơ quan điều tra đã giao trả cho chủ sở hữu nhận lại để quản lý.

7

Tại Cáo trạng số: 61/CT-VKS-HS, ngày 12/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố các bị cáo Dương Minh C và Nguyễn Thị Kiều L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, các bị cáo Dương Minh C và Nguyễn Thị Kiều L trình bày: Thừa nhận đã cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 04 lần trên địa bàn huyện T, 01 lần trên địa bàn huyện M, tỉnh Bến Tre đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thạch Văn N yêu cầu bồi các bị cáo bồi ường"thường số tiền 20.000.000 đồng mà bị cáo bán xe giao nộp lại cho Cơ quan điều tra, bị hại Kim Văn T yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Riêng bị hại Nguyễn Văn B có lời khai yêu cầu các bị cáo bồi thường 02 chiếc xe số tiền 50.000.000 đồng. Đối với yêu cầu của các bị hại, bị cáo C và bị cáo L đồng ý bồi thường. Riêng đối với bị hại Nguyễn Minh D, đã nhận lại xe mô tô ba bánh bị mất trộm nên không có yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự.

Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, tính chất mức độ hành vi của bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố các bị cáo Dương Minh C và Nguyễn Thị Kiều L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Dương Minh C từ 18 tháng đến 24 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kiều L từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, căn cứ các điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015 đề nghị công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Dương Minh C và Nguyễn Thị Kiều L liên đới bồi thường cho ông Thạch Văn N số tiền 20.000.000 đồng; bị hại ông Nguyễn Văn B số tiền 50.000.000 đồng và bị hại ông Kim Văn T số tiền 10.000.000 đồng. Về vật chứng đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị trả lại cho bị hại Thạch Văn N số tiền 20.000.000 đồng bị cáo C đã bán xe bị hại Nhiều; đề nghị tịch thu và tiêu hủy 01 (một) cây kiềm cộng lực, cán bằng kim loại, màu xanh; 01 (một) biển số: 60Y2 – 2572; 01 (một) túi xách không nhãn hiệu bên trong chứa một số phụ tùng sửa xe gắn máy, gồm: búa, chìa khóa cỡ 15, cỡ 17, lưỡi cưa sắt. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô, biển số: 61S4 – 2802 và tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số 021457. Về án phí đề nghị buộc mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

8

[1] Tại phiên tòa, các bị cáo Dương Minh C và Nguyễn Thị Kiều L có lời khai thừa nhận từ ngày 25/11/2022 đến ngày 07/02/2023, các bị cáo Dương Minh C và Nguyễn Thị Kiều L đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 05 chiếc xe ba gác (loại xe ba bánh) trên địa bàn huyện T, tỉnh Trà Vinh tại các xã A, xã L của các bị hại ông Nguyễn Văn B, Thạch Văn N, Kim Văn T và trên địa bàn xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre của bị hại Nguyễn Minh D. Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo Dương Minh C và Nguyễn Thị Kiều L là phù hợp với nhau, phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với thời gian các bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp lời khai của các bị hại Thạch Văn N, ông Nguyễn Văn B, ông Kim Văn T và ông Nguyễn Minh D và lời khai người làm chứng ông Đỗ Công L1 và bà Nguyễn Ngọc Thiên K. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 10/KL-HĐĐGTS, ngày 31/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HĐĐGTS ngày 11/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong t tụng hình sự huyện M, tỉnh Bến Tre, kết luận: 01 (một) xe mô tô ba bánh, biển số: 61L7 - 0265, nhãn hiệu YINXIANG, không có số khung, số máy 162MK-21H004506, đã qua sử dụng có giá trị vào ngày 07/02/2023 là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Tổng giá trị tài sản các bị cáo C và bị cáo L thực hiện hành vi trộm cắp có giá trị là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

[2] Hành vi của các bị cáo Dương Minh C và Nguyễn Thị Kiều L đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bởi vì các bị cáo nhận thức rõ mình thực hiện hành vi lén lúc chiếm đoạt tài sản của người khác là bị pháp luật cấm và gây nguy hiểm cho xã hội nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của các bị cáo Dương Minh C và Nguyễn Thị Kiều L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).. Các bị cáo thực hiện 05 lần trộm cắp tài sản và mỗi lần giá trị tài sản chiếm đoạt đều trên 2.000.000 đồng nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về vai trò, vị trí từng bị cáo trong vụ án: Bị cáo Dương Minh C là người rủ rê, lôi kéo bị cáo L phạm tội, bị cáo C là người tìm kiếm địa điểm để trộm tài sản, tìm chổ bán tài sản trộm được nên có vai trò chính trong vụ án. Để góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội bảo vệ cuộc sống bình yên của người dân và của địa phương thì hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật, cần thiết phải xử phạt các bị cáo mức án tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm để giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội đối với những hành vi ương"tương tự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có trình độ học vấn thấp nên việc am hiểu pháp luật có phần bị hạn chế; bị cáo C là lao động chính trong gia đình và bị cáo L đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thạch Văn N yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng; bị hại Nguyễn Văn B có lời khai tại Cơ quan điều tra yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 50.000.000 đồng; bị hại Kim Văn T yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo C và bị cáo L đồng ý bồi thường. Xét thấy việc thỏa thuận bồi thường nói trên giữa các bị hại với các bị cáo là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công

9

nhận. Riêng đối với bị hại Nguyễn Minh D, đã nhận lại xe mô tô ba bánh bị mất trộm nên không có yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự.

[5] Về vật chứng đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu và tiêu hủy 01 (một) cây kiềm cộng lực, cán bằng kim loại, màu xanh; 01 (một) biển số: 60Y2 – 2572; 01 (một) túi xách không nhãn hiệu bên trong chứa một số phụ tùng sửa xe gắn máy, gồm: búa, chìa khóa cỡ 15, cỡ 17, lưỡi cưa sắt. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô, biển số: 61S4 – 2802 và tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số 021457. Đối với số tiền 20.000.000 đồng thu giữ của hai bị cáo là tiền các bị cáo bán xe chiếm đoạt của bị hại Thạch Văn N, căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án cho ông Thạch Văn N.

[6] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban ường"Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 05% án phí dân sự của số tiền phải bồi thường thiệt hại (80.000.000 đồng x 5%) theo quy định của pháp luật.

[7] Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố và thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố các bị cáo Dương Minh CNguyễn Thị Kiều L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Dương Minh C 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2023

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kiều L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Căn cứ các điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự năm 2015;

Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Dương Minh CNguyễn Thị Kiều L chịu trách nhiệm liên đới (mỗi người 50%) bồi thường cho ông Thạch Văn N số tiền 20.000.000 đồng; bị hại ông Nguyễn Văn B số tiền 50.000.000 đồng và bị hại ông Kim Văn T số tiền 10.000.000 đồng.

10

Tiếp tục tạm giữ số tiền 20.000.000 đồng của bị cáo Dương Minh C (vật chứng thu giữ) nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T để đảm bảo thi hành án cho bị hại Thạch Văn N.

Khi án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án được Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án đúng theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy:

  • 01 (một) cây kiềm cộng lực, cán bằng kim loại, màu xanh.
  • 01 (một) biển số: 60Y2 - 2572.
  • 01 (một) túi xách không nhãn hiệu bên trong chứa một số phụ tùng sửa xe gắn máy, gồm: búa, chìa khóa cỡ 15, cỡ 17, lưỡi cưa sắt.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

  • 01 (một) xe mô tô, biển số: 61S4 - 2802.

Tịch thu lưu hồ sơ vụ án:

  • 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số 021457.

Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và hai bị cáo phải liên đới (mỗi người 50%) chịu 4.000.000 đồng (80.000.000 đồng x 5%) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại Nguyễn Văn B, bị hại Nguyễn Minh D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết công khai hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật T hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thihành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại, người liên quan;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THAHSCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THADS huyện Trà Cú;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Trà Cú;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Truyền

11

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sơn Ken

Dương Văn Siêng

Nguyễn Văn Truyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 58/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Minh Chào
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger