|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HS-ST
Ngày 17 - 7 - 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Bộ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sâm.
Ông Nguyễn Việt Tú.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Văn T ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 01 tháng 02 năm 1986 tại C, Phú Thọ.
Nơi cư trú: khu T, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12
Bố đẻ: Hà Văn C (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị C1, sinh năm 1955 hiện ở xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Gia đình bị cáo có 04 chị, em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.
Vợ: Nguyễn Thị L – sinh năm 1988, hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T6 – Phân trại số 1 ở xã M, huyện T, thành phố Hà Nội.
Con: bị cáo có 01 người con sinh năm 2015.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 11/3/2024 đến nay.
Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
Người bị hại: Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Khu C, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Huỳnh Thanh N, sinh năm 1990. Địa chỉ: I L, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo uỷ quyền của anh N: Chị Lưu Bích T2, sinh năm 2004.Địa chỉ: 44/16/1 Đ, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
- Anh Cao Xuân H, sinh năm 1985. Địa chỉ: Đ, thôn H, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/02/2024, Hà Văn T – sinh ngày 01/02/1986 ở khu T, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ có đặt mua 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro max, màu xám Titan là hàng nhái của sản phẩm A (không do A sản xuất) với số tiền 5.200.000đ (năm triệu hai trăm nghìn đồng) qua mạng xã hội. Quá trình sử dụng, T đã nảy sinh ý định lên mạng xã hội đặt mua 01 (một) chiếc điện thoại di động do nhãn hiệu Apple sản xuất có đặc điểm giống như điện thoại mình đang sử dụng, sau đó lợi dụng sơ hở của nhân viên giao hàng rồi đánh tráo điện thoại mình đang sử dụng có giá trị thấp hơn lấy điện thoại có giá trị cao hơn để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Qua mạng xã hội Facebook, T tìm thấy trang bán hàng điện thoại di động của cửa hàng “Phone Hot Đà Nẵng – Góp Bao Duyệt Sinh Viên” địa chỉ tại số B đường N, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng do anh Huỳnh Thanh N sinh năm 1990 ở I L, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng làm chủ hộ kinh doanh (giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 32B8014198 do phòng tài chính kế hoạch – Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Đà Nẵng đăng ký lần đầu ngày 16/3/2016) để đặt mua điện thoại. Lúc này, chị Lưu Thị Bích T3 - sinh năm 2004 hiện ở 4 Đ, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng là nhân viên cửa hàng và là quản trị viên trang bán hàng có bảo T liên hệ qua Zalo của cửa hàng để trao đổi việc mua bán điện thoại. T sử dụng tài khoản Zalo “Hãy Im Lặng” đăng ký bằng số điện thoại 0965.903.xxx (T là chủ số điện thoại này) kết bạn với Zalo của cửa hàng và đặt mua 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple loại Iphone 15 Promax màu xám Titan có đặc điểm, hình dáng, kích thước, màu sắc giống với điện thoại nhái của T đang sử dụng với số tiền 29.500.000đ (hai mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng). Chị T3 yêu cầu T đặt cọc số tiền 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng) và thanh toán số tiền còn lại là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) khi nhận hàng. T đồng ý. T sử dụng tài khoản ngân hàng A1 số tài khoản là 7806205034826, chủ tài khoản HA VAN TUAN chuyển khoản 02 lần tổng số 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng) (trong đó lần 01 số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), lần 02 số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng)) vào số tài khoản ngân hàng S 0766683663, chủ tài khoản LUU THỊ BỊCH THUY để đặt mua điện thoại. Sau đó, chị T3 bảo anh Nguyễn D, sinh năm 2003 ở thôn Đ, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế là nhân viên cửa hàng đóng gói đơn hàng T đặt mua, đề tên địa chỉ gửi “Cửa hàng X, địa chỉ: số G đường N, phường T, quận T, TP Đà Nẵng” (là hệ thống cửa hàng P) và gửi đơn vị vận chuyển giao hàng tiết kiệm để giao hàng cho T theo địa chỉ: “HÀ TUẤN HƯNG, địa chỉ: khu A, xã T, huyện C, SĐT 0896.704.xxx” mà T cung cấp cho cửa hàng (T không lấy đúng tên và địa chỉ giống như địa chỉ của mình để không ai biết thông tin, địa chỉ và không ai phát hiện ra).
Khoảng 08 giờ ngày 06/3/2024, chị Phan Thị T4 – sinh năm 1988 ở khu C, xã M, huyện C hiện là nhân viên công ty G chi nhánh huyện C đến bưu cục C nhận bưu phẩm số: 1635904262 ghi người gửi là: Cửa hàng X, địa chỉ: số G đường N, phường T, quận T, TP Đà Nẵng, người nhận: HÀ TUẤN HƯNG, địa chỉ: khu A, xã T, huyện C, SĐT 0896.704.xxx (bưu phẩm còn nguyên vẹn, không bị rách nát, hư hỏng). Trên đường đi giao hàng, chị T4 sử dụng số điện thoại 0378.076.xxx gọi vào số điện thoại 089.704.028 của T cung cấp để nhận bưu phẩm trên, T hẹn chị T4 ra quán T7 Thạch của anh Phạm Ngọc T5 – sinh năm 1989 ở khu A, xã T, huyện C để nhận hàng. Lúc này, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 6 mặt trước màu trắng, mặt sau màu vàng, số I: 354405061706332 chuẩn bị một hình ảnh chụp màn hình chuyển khoản thành công từ ứng dụng A1, số tài khoản 7806205034826, chủ tài khoản HA ANH TUAN đến số tài khoản ngân hàng S 0766683663, chủ tài khoản LUU THỊ BỊCH THUY, đồng thời đúc sẵn Iphone 15 Promax “nhái” mà T đang sử dụng mục đích lợi dụng sơ hở của nhân viên giao hàng sẽ tráo đổi điện thoại. Khi ra đến địa điểm nhận hàng đã hẹn với chị T4, T yêu cầu chị T4 mở bưu phẩm ra kiểm tra hàng. Chị T4 bóc hàng cho T xem và đưa cho T 01 hộp dựng điện thoại còn nguyên seal đồng thời quá trình mở hàng chị T4 sử dụng điện thoại di động của mình quay lại toàn bộ quá trình mở hàng. T mở hộp ra bên trong có một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xám titan, do A sản xuất và có 01 dây sạc. Vỏ hộp đựng điện thoại có ghi mã số “3553.6428.117.1117; 15 Pro max 256GB”. T bóc lớp giấy dán màn hình, mở nguồn điện thoại để kiểm tra, T thấy điện thoại này có đặc điểm, hình dáng, kích thước, màu sắc giống như điện thoại mà T đặt mua nên T lấy lý do là điện thoại không lắp được sim nên phải sang quán tạp hóa nhà anh T5 xin dùng nhờ W để kiểm tra. T cầm điện thoại đi sang cửa hàng tạp hóa của anh T5 đối diện vị trí nhận hàng. Khi T đi cách chị T4 khoảng 5-7m, T không thấy chị T4 đi theo nên đã nhanh chóng đúc điện thoại mà mình đặt mua vào trong túi áo khoác, đồng thời lấy điện thoại mà T đã chuẩn bị sẵn ra cầm trên tay và quay lại chỗ chị T4 ngồi và đồng ý nhận hàng. Chị T4 bảo T thanh toán tiền hàng thì T bảo đã chuyển tiền thành công cho cửa hàng và cho chị T4 xem hình ảnh chụp màn hình giao dịch chuyển khoản thành công mà T đã chuẩn bị từ trước, chị T4 liên hệ với chị Lưu Thị Bích T3 xem đã nhận được tiền chưa thì chị T3 báo chưa nhận được tiền do vậy chị T4 không đưa điện thoại cho T mà cầm lại điện thoại rồi đúc vào hộp, sau đó chị T4 tiếp tục đi giao hàng còn T về nhà. Chị T3 gọi điện thoại cho T hỏi lý do chưa nhận hàng thì T bảo đã chuyển khoản vào tài khoản của cửa hàng nhưng chắc do mạng kém cửa hàng chưa nhận được tiền và bảo chị T3 đợi xem chiều có nhận được tiền không. T tiếp tục sử dụng số điện thoại 0896.704.xxx gọi vào số điện thoại 0378.076.xxx của chị T4 hẹn 14 giờ cùng ngày ra ngã ba xã N - xã T để nhận hàng mục đích của T là sẽ kiểm tra lại một lần nữa chiếc điện thoại mà T vừa đánh tráo với chiếc điện thoại cửa hàng giao đã giống nhau chưa rồi kiếm một lý do để từ chối không nhận hàng. Đến 14 giờ cùng ngày, T đi ra ngã ba xã N - xã T và gặp chị T4 ở cửa hàng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật của chị Mai Thị L1 - sinh năm 1995 ở khu N, xã N, huyện C. Chị T4 đưa bưu phẩm chứa chiếc điện thoại trên cho T, T yêu cầu chị T4 đưa sạc chiếc điện thoại để kiểm tra, chị T4 đồng ý. T cầm điện thoại thấy chiếc điện thoại này có đặc điểm, hình dáng, kích thước, màu sắc giống điện thoại mà cửa hàng đã giao cho T nên T nghĩ chị T4 không nhận ra việc T đã tráo diện thoại. T lấy lý do điện thoại này không đăng nhập được iCloud nên đưa lại điện thoại cho chị T4 để hoàn trả lại cho cửa hàng. Sau đó T ra về, tắt điện thoại. Chị T4 gọi điện thoại cho chị T3 thông báo T không nhận hàng, chị T3 hỏi lý do khách từ chối nhận hàng thì chị T4 nói “khách bảo không đăng nhập được vào icould”. Do nghi ngờ điện thoại gửi cho T đã bị đánh tráo nên chị T3 yêu cầu chị T4 gọi video qua ứng dụng zalo để kiểm tra. Lúc này, chị T3 phát hiện đây không phải điện thoại của cửa hàng nên đã thông báo với chị T4 là chiếc điện thoại đã bị đánh tráo và gọi cho T nhưng không liên lạc được. Chị T4 kiểm tra lại video lúc T mở hàng thì thấy đúng là chiếc điện thoại T trả lại không giống với chiếc điện thoại trong bưu phẩm cửa hàng gửi. Còn T, sau khi lừa đảo được chiếc điện thoại trên thì T đi xuống thành phố Hà Nội, trên đường đi Tuấn tháo sim số thuê bao 0896.704.028 mà T dùng để đặt mua điện thoại và vứt đi. Khoảng 17 giờ ngày 07/3/2024, T đem chiếc điện thoại lừa đảo được đến cửa hàng X do anh Cao Xuân H – sinh năm 1985 ở đội I, thôn H, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội làm chủ để bán được số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng), khi bán T nói với anh H là “Điện thoại T mới mua, không dùng đến nên bán”. Anh H trả cho T 19.000.000đ (mười chín triệu đồng) tiền mặt và chuyển khoản từ số tài khoản: 4868668868 của anh H mở tại ngân hàng thương mại cổ phần K đến số tài khoản của T mở tại ngân hàng thương mại cổ phần Q, số tài khoản: 986934399 số tiền 6.000.000₫ (sáu triệu đồng). Sau đó, T mua của anh H 01 chiếc điện thoại Apple loại Iphone 12 Promax với giá 12.000.000đ (mười hai triệu đồng). Đến chiều cùng ngày, do cần tiền để tiêu xài nên T đã bán chiếc điện thoại mới mua của anh H cho người đàn ông mà T không rõ tên tuổi, địa chỉ ở thành phố Hà Nội được số tiền 12.800.000đ (mười hai triệu tám trăm nghìn đồng) rồi T lại đến cửa hàng của anh H mua lại chiếc điện thoại Apple loại Iphone 15 Promax màu xám Titan mà trước đó T đã bán cho anh H với giá 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
Còn chị T4 sau khi biết mình bị T lừa đảo thì sáng ngày 10/03/2024 chị T4 đến Công an xã T và Công an huyện C trình báo sự việc và tự nguyện giao nộp:
- - 01 (một) đĩa CD bên trong có 01 đoạn video (đoạn video chị T4 quay lại khi chị giao gói bưu phẩm cho T kiểm tra).
- - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xám có số Imel thẻ chính là: 3539.9789.628.0172; số Imel thẻ phụ là: 3539.9789.628.0938, không lắp sim là điện thoại của T mà chị giao hàng vào ngày 06/3/2024 đã đánh tráo của chị.
- - 01 (một) túi giấy bên ngoài có bọc nilong đã rách; 01 (một) hộp giấy màu trắng, bên trong có 01 (một) củ sạc điện thoại; 01 (một) hộp giấy màu trắng, bên trong có 01 (một) chiếc tai nghe điện thoại; 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật bên trong có 01 (một) dây sạc điện thoại; 02 (hai) miếng dán cường lực điện thoại, chưa sử dụng; 02 (hai) chiếc ốp điện thoại bằng nhựa dẻo trong suốt, chưa sử dụng là những đồ vật của gói bưu phẩm cửa hàng XO MOBILE chuyển cho T mà chị giao nhận hàng vào ngày 06/3/2024.
Cùng ngày 11/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã triệu tập Hà Văn T đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Hà Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi của bản thân và tự nguyện giao nộp:
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 15 Promax màu titan xám, dung lượng: 256GB, số I: 3553.6428.117.1117.
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 6 có mặt trước màu trắng mặt sau màu vàng có số Imel: 3544.0506.170.6332;
- - 01 (một) sim có số seri sim: 8984.0480.0032.7088.979;
- - 01 (một) đôi dép dạng dép cao su màu trắng và xám; 01 (một) quần bò có cúc bằng kim loại, bên trong quần bò có chữ “JONA THAN SINCE 2008"; 01 (một) áo khoác màu xám bên trong có lót lông màu đen và có chữ: "MADE IN VIET NAM 2XL"; 01 (một) áo sơ mi cộc tay màu trắng kẻ tím; 01 (một) mũ lưỡi trai màu xám, bên trên mũ có chữ: “TOYUILIFE”; 01 (một) khẩu trang bằng vải kẻ xanh, tím. Đây là bộ quần áo, dép, mũ, khẩu trang T mặc đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị T4.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Huỳnh Thanh N uỷ quyền cho chị Lưu Thị Bích T3 là người đại diện hợp pháp được toàn quyền thay mặt anh tham gia giải quyết vụ án. Ngày 20/02/2024, chị Lưu Thị Bích T3 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C số tiền 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền Hà Văn T đặt cọc khi mua điện thoại.
Ngày 11/03/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C định giá: 01 (một) điện thoại di động Iphone 15 Promax màu titan xám, dung lượng: 256GB, số I: 355.364.281.171.117.
Tại kết luận định giá tài sản số: 17/KL-HĐĐGTS ngày 11/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:
01 (một) điện thoại di động Iphone 15 Promax màu titan xám, dung lượng: 256GB, số Imel: 355.364.281.171.117, Trị giá: 28.500.000đ (hai mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng).
Như vậy, ngày 06/3/2024 tài sản T đã lừa đảo của chị T4 có trị giá 28.500.000đ (hai mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra, chị Lưu Thị Bích T3 đề nghị nhận lại chiếc điện thoại Iphone 15 Promax màu xám titan, dung lượng: 256GB, số Imel: 355364281171117 cùng các phụ kiện đi kèm diện thoại mà chị T3 gửi hàng cho T đồng thời chị Lưu Thị Bích T3 đề nghị T bồi thường cho chị số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) là tiền chênh lệch giá trị chiếc điện thoại trên vì điện thoại cửa hàng chị gửi cho T còn nguyên seal, ngoài ra không để nghị gì khác. Hà Văn T đã tự nguyện bồi thường cho chị T3 1.000.000đ (một triệu đồng).
Ngày 11/03/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C có công văn số 202 gửi Ngân hàng A1 chi nhánh huyện C, tỉnh Phú Thọ về việc sao kê số tài khoản ngân hàng: 7806205034826, chủ tài khoản: HÀ VĂN TUẤN. Quá trình rà soát, sao kê tài khoản ngân hàng trên của T không thực hiện giao dịch, chuyển khoản số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) đến số tài khoản ngân hàng S: 0766683663, chủ tài khoản: LƯU THỊ BÍCH THỦY. Qua sao kê số tài khoản 0766683663 mở tại ngân hàng S, chủ tài khoản LƯU THỊ BÍCH THỦY không nhận được số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) của Hà Văn T.
Số thuê bao: 089.670.4xxx mà Hà Văn T sử dụng để đặt mua điện thoại T khai ngày 26/02/2024 T mua ở thành phố Hà Nội (T không nhớ địa chỉ) và đã vứt bỏ trên đường xuống thành phố Hà Nội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành rà soát nhưng không thu giữ được. Xác minh người đăng ký sử dụng số thuê bao 089.670.4xxx là Nguyễn Văn H1, sinh năm 1984, nơi thường trú: thôn Đ, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, tuy nhiên qua xác minh thì Nguyễn Văn H1 không có mặt tại địa phương, địa phương không biết hiện tại Nguyễn Văn H1 đi đâu, làm gì, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không làm việc được với Nguyễn Văn H1.
Chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xám có số Imel thẻ chính là: 353997896280172; số Imel thẻ phụ là: 353997896280938 mà Hà Văn T dùng để đánh tráo khi nhận hàng T khai mua ở cửa hàng điện thoại di động CH mobile, địa chỉ ở số C H, quận B, Thành phố Hà Nội. Qua xác minh tại Công an phường L, quận B, Thành phố Hà Nội không có cửa hàng di động nào địa chỉ như trên.
Còn 01 chiếc điện thoại Apple loại Iphone 12 Promax T mua của anh H thì T đã bán cho người đàn ông không rõ tên tuổi ở thành phố Hà Nội, quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được chiếc điện thoại này.
Tại cơ quan điều tra Hà Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã trình bày ở trên. Lời khai của T phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 36/CT-VKSCK-HS ngày 07/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Hà Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị:
*Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1, 2, 4 Điều 36 của Bộ luật hình sự.
*Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
* Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Hà Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Hà Văn T tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Hà Văn T.
Buộc bị cáo Hà Văn T phải lao động phục vụ cộng đồng, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 6 có mặt trước màu trắng mặt sau màu vàng có số Imel: 354405061706332; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xám có số Imel thẻ chính là: 3539.9789.628.0172; số Imel thẻ phụ là: 3539.9789.628.0938.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng) là công cụ phương tiện phạm tội.
-Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) sim có số seri sim: 8984.0480.0032.7088.979; 01 (một) đôi dép dạng dép cao su màu trắng và xám; 01 (một) quần bò có cúc bằng kim loại, bên trong quần bò có chữ “JONA THAN SINCE 2008"; 01 (một) áo khoác màu xám bên trong có lót lông màu đen và có chữ: "MADE IN VIET NAM 2XL"; 01 (một) áo sơ mi cộc tay màu trắng kẻ tím; 01 (một) mũ lưỡi trai màu xám, bên trên mũ có chữ: “TOYUILIFE”; 01 (một) khẩu trang bằng vải kẻ xanh, tím.
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/6/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).
Xác nhận quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã làm rõ: 01 (một) điện thoại Iphone 15 Promax màu xám titan, dung lượng: 256GB, số Imel: 355.364.281.171.117; 01 (một) túi giấy bên ngoài có bọc nilong đã rách; 01 (một) hộp giấy màu trắng, bên trong có 01 (một) củ sạc điện thoại; 01 (một) hộp giấy màu trắng bên trong có 01 (một) chiếc tai nghe điện thoại; 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật bên trong có 01 (một) dây sạc điện thoại; 02 (hai) miếng dán cường lực chưa sử dụng: 02 (hai) chiếc ốp điện thoại bằng nhựa dẻo trong suốt chưa sử dụng là vật chứng mà Hà Văn T lừa đảo chiếm đoạt tài sản và là tài sản hợp pháp của anh Huỳnh Thanh N. Xét thấy việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên ngày 15/04/2014 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chị Lưu Thị Bích T3 là người đại diện theo uỷ quyền của anh N là hợp pháp.
[7]. Về trách nhiệm dân sự:
Chị Lưu Thị Bích T3 đề nghị T bồi thường cho chị số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Hà Văn T đã tự nguyện bồi thường cho chị T3 số tiền trên. Chị Phạm Thị T1 không đề nghị T phải bồi thường gì. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên Tòa. Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án là phù hợp.
[2]. Về những chứng cứ xác định có tội được xác định như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 06/03/2024, tại quán T7 Thạch của anh Phạm Ngọc T5, sinh năm: 1989 ở khu A, xã T, huyện C, Hà Văn T đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị Phạm Thị T1, sinh năm 1988 ở khu C, xã M, huyện C (hiện là nhân viên công ty G chi nhánh huyện C) 01 (một) điện thoại di động Iphone 15 Promax màu xám titan, dung lượng: 256GB, số Imel: 3553.6428.117.1117 trị giá: 28.500.000đ (hai mươi trăm triệu năm trăm nghìn đồng) thông qua việc lợi dụng sự mất cảnh giác của chị Phạm Thị T1 để đánh tráo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu xám titan (điện thoại nhái của nhãn hiệu Apple) của T lấy 01 chiếc điện thoại Iphone 15 Promax mẫu titan xám do A sản xuất mà T đặt mua của cửa hàng “P Đà Nẵng – Góp Bao Duyệt Sinh Viên” địa chỉ tại số B đường N, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng do anh Huỳnh Thanh N – sinh năm 1990 ở I L, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng làm chủ.
Hành vi nêu trên của Hà Văn T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...”
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu, do đó, cáo trạng số 36/CT - VKSCK- HS ngày 07/6/2024 của VKSND huyện Cẩm Khê đã truy tố bị cáo Hà Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ chấp nhận.
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý; mức độ phạm tội là ít nghiêm trọng, bị cáo đã xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu trong xã hội, nên hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo T được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt:
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Chỉ cấn áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ với bị cáo cũng đảm bảo trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như phòng ngừa trong xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung:
Khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 100.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Xét thấy: Bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo là phù hợp.
[6]. Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 6 có mặt trước màu trắng mặt sau màu vàng có số Imel: 354405061706332; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xám có số Imel thẻ chính là: 3539.9789.628.0172; số Imel thẻ phụ là: 3539.9789.628.0938 là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng) là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Số tiền trên Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã gửi vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê (có giấy nộp kèm theo)
- Đối với 01 (một) sim có số seri sim: 8984.0480.0032.7088.979 cần tịc thu tiêu huỷ.
- Đối với: 01 (một) đôi dép dạng dép cao su màu trắng và xám; 01 (một) quần bò có cúc bằng kim loại, bên trong quần bò có chữ “JONA THAN SINCE 2008"; 01 (một) áo khoác màu xám bên trong có lót lông màu đen và có chữ: "MADE IN VIET NAM 2XL"; 01 (một) áo sơ mi cộc tay màu trắng kẻ tím; 01 (một) mũ lưỡi trai màu xám, bên trên mũ có chữ: “TOYUILIFE”; 01 (một) khẩu trang bằng vải kẻ xanh, tím. Bộ quần áo, mũ, khẩu trang, dép T mặc khi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị T1 bị cáo yêu cầu tiêu huỷ.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã làm rõ: 01 (một) điện thoại Iphone 15 Promax màu xám titan, dung lượng: 256GB, số Imel: 355.364.281.171.117; 01 (một) túi giấy bên ngoài có bọc nilong đã rách; 01 (một) hộp giấy màu trắng, bên trong có 01 (một) củ sạc điện thoại; 01 (một) hộp giấy màu trắng bên trong có 01 (một) chiếc tai nghe điện thoại; 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật bên trong có 01 (một) dây sạc điện thoại; 02 (hai) miếng dán cường lực chưa sử dụng: 02 (hai) chiếc ốp điện thoại bằng nhựa dẻo trong suốt chưa sử dụng là vật chứng mà Hà Văn T lừa đảo chiếm đoạt tài sản và là tài sản hợp pháp của anh Huỳnh Thanh N. Xét thấy việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên ngày 15/04/2014 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chị Lưu Thị Bích T3 là người đại diện theo uỷ quyền của anh N những đồ vật trên là phù hợp cần xác nhận là hợp pháp.
[7]. Về trách nhiệm dân sự:
Chị Lưu Thị Bích T3 đề nghị T bồi thường cho chị số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Hà Văn T đã tự nguyện bồi thường cho chị T3 số tiền trên. Chị Phạm Thị T1 không đề nghị T phải bồi thường gì. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
*Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1, 2, 4 Điều 36 của Bộ luật hình sự.
*Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
* Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Văn T 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Hà Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Hà Văn T tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Hà Văn T.
Buộc bị cáo Hà Văn T phải lao động phục vụ cộng đồng, thời gian lao động phục vụ công đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 6 có mặt trước màu trắng mặt sau màu vàng có số Imel: 354405061706332; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xám có số Imel thẻ chính là: 3539.9789.628.0172; số Imel thẻ phụ là: 3539.9789.628.0938.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng) là công cụ phương tiện phạm tội.
-Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) sim có số seri sim: 8984.0480.0032.7088.979; 01 (một) đôi dép dạng dép cao su màu trắng và xám; 01 (một) quần bò có cúc bằng kim loại, bên trong quần bò có chữ “JONA THAN SINCE 2008"; 01 (một) áo khoác màu xám bên trong có lót lông màu đen và có chữ: "MADE IN VIET NAM 2XL"; 01 (một) áo sơ mi cộc tay màu trắng kẻ tím; 01 (một) mũ lưỡi trai màu xám, bên trên mũ có chữ: “TOYUILIFE”; 01 (một) khẩu trang bằng vải kẻ xanh, tím.
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/6/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).
Xác nhận ngày 15/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại: 01 (một) điện thoại Iphone 15 Promax màu xám titan, dung lượng: 256GB, số Imel: 355.364.281.171.117; 01 (một) túi giấy bên ngoài có bọc nilong đã rách; 01 (một) hộp giấy màu trắng, bên trong có 01 (một) củ sạc điện thoại; 01 (một) hộp giấy màu trắng bên trong có 01 (một) chiếc tai nghe điện thoại; 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật bên trong có 01 (một) dây sạc điện thoại; 02 (hai) miếng dán cường lực chưa sử dụng: 02 (hai) chiếc ốp điện thoại bằng nhựa dẻo trong suốt chưa sử dụng cho chị Lưu Thị Bích T3 là người đại diện theo uỷ quyền của anh N là hợp pháp.
*Về trách nhiệm dân sự:
Chị Lưu Thị Bích T3 đề nghị T bồi thường cho chị số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Hà Văn T đã tự nguyện bồi thường cho chị T3 số tiền trên. Chị Phạm Thị T1 không đề nghị T phải bồi thường gì. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
*Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hà Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
*Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại có mặt được quyền kháng cáo Bản án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở UBND nơi họ cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Bộ |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
