|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 85/2024/HS-ST Ngày: 17-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Trường, ông Lê Ngọc Sử
-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: HỒ TRƯỜNG V; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 2003; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Hồ Đắc Đ, sinh năm 1972 và bà Đặng Thị Thúy N, sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Phùng Phạm Thanh T, sinh năm 2003; Nơi cư trú; thôn B, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước, có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Lê Thành T1, sinh năm 1999; Nơi cư trú: ấp C, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
- + Bà Đặng Thị Thúy N, sinh năm 1976; Nơi cư trú: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, có mặt.
- + Ông Phùng Văn N1, sinh năm 1966; Nơi cư trú: thôn B, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11h 30' ngày 06/10/2023, Hồ Trường V nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của Phùng Phạm Thanh T mang đi cầm cố lấy tiền trả nợ. V nhắn tin cho T để mượn xe thì anh T đồng ý cho V mượn xe. V đến phòng trọ của anh T tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Tại đây, anh T giao xe mô tô biển số 93H9-1035 cho V. Sau đó, V điều khiển xe mô tô biển số 93H9-1035 đến nhà Lê Thành T1 cầm cố chiếc xe trên cho T1 được số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền có được từ việc cầm cố xe mô tô biển số 93H9-1035, V trả nợ cho N2 (không rõ lai lịch) 9.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết 1.000.000 đồng.
Ngày 30/01/2024, Phùng Phạm Thanh T đến Công an thành phố Đ tố cáo hành vi phạm tội của Hồ Trường V; Ngày 31/01/2024, Hồ Trường V đến Công an thành phố Đ đầu thú.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS, ngày 02/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự kết luận: 01 xe mô tô biển số 93H9-1035, đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường có trị giá 9.500.000 đồng.
* Tại bản Cáo trạng số 83/CT-VKS, ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo Hồ Trường V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Hồ Trường V mức án 04 tháng 17 ngày tù, bằng thời hạn tạm giam và trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị giam, giữ về hành vi phạm tội khác; không áp dụng hình phạt bổ sung;
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xe mô tô biển số 93H9-1035; ông Lê Thành T1 đã nhận lại số tiền 10.000.000 đồng từ gia đình bị cáo và gia đình bị cáo cũng không yêu cầu bị cáo Vũ h lại số tiền này. Do đó không đặt ra xem xét giải quyết những nội dung này.
* Bị cáo Hồ Trường V tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận; xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa Hồ Trường V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đối chiếu lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, Bản kết luận điều tra, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Ngày 06/10/2023, Hồ Trường V nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của Phùng Phạm Thanh T mang đi cầm cố lấy tiền trả nợ nên đã nhắn tin cho anh T hỏi mượn xe mô tô biển số 93H9-1035, anh T đồng ý, bị cáo đến phòng trọ của anh T tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước nhận xe sau đó điều khiển xe vừa mượn được đến nhà Lê Thành T1 cầm với số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền này bị cáo dùng trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi dùng thủ đoạn gian dối nói là mượn xe mô tô của anh T đi công việc nhưng sau đó mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân là vi phạm pháp luật. Xét hành vi bị cáo thực hiện là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất lòng tin giữa con người với nhau, vì vậy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi, hậu quả bị cáo gây ra.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối lỗi về hành vi đã thực hiện; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã đến Công an đầu thú; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại; bị cáo tác động gia đình hoàn trả lại số tiền đã nhận để khắc phục hậu quả. Đây là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Xét, bị cáo Hồ Trường V có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt, tuổi đời còn trẻ và đã bị tạm giam một thời gian cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục; cần tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm. Hội đồng xét xử xét thấy đủ điều kiện áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự nên xử phạt bị cáo dưới khung là phù hợp.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng.
[5] Đối với việc Hồ Trường V khai nhận chơi đánh bạc trên mạng nhưng không xác định được cách thức, ngày giờ, đánh với ai, số tiền đánh bạc nên không đủ cơ sở xử lý.
[6] Đối với Lê Thành T1 là người người nhận cầm cố xe mô tô biển số 93H9-1035 nhưng không biết đây là tài sản do V phạm tội mà có nên chưa đủ cơ sở xử lý.
[7] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- - Bị hại Phùng Phạm Thanh T đã nhận lại tài sản xe mô tô biển số 93H9-1035; anh Lê Thành T1 đã nhận lại số tiền 10.000.000 đồng. Anh T và anh T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- - Bà Đặng Thị Thúy N là mẹ bị cáo V đã bỏ tiền ra bồi hoàn cho anh T1 10.000.000 đồng và không yêu cầu V hoàn trả lại nên không xem xét.
[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Hồ Trường V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, Điều 54 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hồ Trường V 04 (bốn) tháng 17 (mười bảy) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024. Do thời hạn tù bằng thời hạn tạm giữ, tạm giam nên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về hành vi phạm tội khác.
2. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Đã giải quyết xong.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Hồ Trường V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Hồ Trường V, bà Đặng Thị Thúy N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thu Huệ |
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
