|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 58/2024/HS-PT Ngày: 17/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Quốc Sơn
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Đức Anh và ông Nguyễn Quang Trung
Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Mai Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 37/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Lữ Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 26/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lữ Văn Đ, tên gọi khác: không; sinh ngày 09 tháng 8 năm 2002 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản Mới, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; chức vụ trước khi phạm tội: không; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Lữ Văn D, sinh năm 1979 và con bà: Lương Thị P, sinh năm 1981; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo Lữ Văn Đ bị tạm giữ tại nhà Tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An từ ngày 06 tháng 10 năm 2023 đến ngày 15 tháng 10 năm 2023, được áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/10/2023 đến nay. Có mặt.
- Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ 00 phút ngày 03 tháng 10 năm 2023 đến khoảng 1 giờ 00 phút ngày 24 tháng 10 năm 2023, Lữ Văn Đ, sinh năm 2002, nơi cư trú: bản Mới, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An đi hát Karaoke cùng một số người trong đó có anh Lữ Bảo L, sinh năm 2005, nơi cư trú: bản Lìm, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, anh Hồ Sỹ H, sinh năm 1997, nơi cư trú: khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An (là đồng nghiệp cũ của Đ trong thời gian Đ đi lính nghĩa vụ Công an nhân dân tại Đội Cảnh sát chữa cháy và cứu hộ cứu nạn số 5) tại quán K thuộc khối B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Lúc ra về Đ thấy anh H bị say đang nằm ngủ ở ghế trong phòng hát và nhìn thấy có một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh (Iphone 11 Promax màu xanh, dung lượng 256 GB, máy bị hỏng FaceID, bị vỡ kính mặt Camera phía sau, có ốp nhựa trong suốt) ở dưới nền phòng hát tại vị trí nằm của anh H, Đại nghĩ là của anh H đánh rơi. Đ nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này nên đã lén lút cúi xuống lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần đang mặc trên người rồi dìu anh H đi ra xe ô tô cùng một số người khác đi về thị trấn Đ, huyện Đ. Sau khi về đến trụ sở Đội Cảnh sát chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn số 5 ở thị trấn Đ, huyện Đ ( nơi anh H công tác) thì Đ và anh Lữ Bảo L bắt xe taxi lên thị trấn A chơi. Khi xe đi đến khu vực ngã tư thị trấn Đ gần trụ sở Đội Cảnh sát chữa cháy và cứu hộ cứu nạn số 5 thì Đ lấy chiêc điện thoại di động trộm được ra mở mật khẩu máy, mật khẩu có 04 số, Đại thử 3 lần nhưng không được. Đ nhớ anh H sinh năm 1997 nên thử nhập mật khẩu là “1997” thì mở được máy. Sau khi mở được máy Đ thoát tài khoản icloud của máy rồi mang máy đi lên thị trấn A, tại huyện A, Đ và L ăn uống đến 05 giờ sáng ngày 04/10/2023 thì bắt xe buýt đi về thành phố V. Khi đang ở trên xe buýt đi đường N thuộc địa phận huyện N, tỉnh Nghệ An, Đ mở chiếc điện thoại trộm được vào phần ghi chú thì thấy có lưu mật khẩu tài khoản ngân hàng nên Đ đã đăng nhập vào tài khoản số 5101447379 của anh H tại ứng dụng SmartBanking của Ngân hàng B thì thấy trong tài khoản đang có số tiền hơn 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng), thấy tiền trong tài khoản, Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền này. Sau đó, Đ nhắn tin qua ứng dụng M cho một người bạn là anh Nguyễn Xuân D1, sinh năm 2002, nơi cư trú: xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để xin số tài khoản ngân hàng của anh Nguyễn Xuân D1 rồi chuyển số tiền 32.000.000 đồng (ba mươi hai triệu đồng) từ tài khoản số số 5101447379 Ngân hàng B qua số tài khoản 1016347014 của anh Nguyễn Xuân D1 tại Ngân hàng V. Sau khi nhận được tiền, anh Nguyễn Xuân D1 có hỏi Đ về nguồn gốc số tiền nhưng Đ nói dối anh Nguyễn Xuân D1 là do người khác nhặt được máy, vào được tài khoản Ngân hàng nên mượn số tài khoản của anh Nguyễn Xuân D1 để chuyển tiền qua. Do sợ liên quan đến pháp luật, nên anh Nguyễn Xuân D1 đã nói với Đ chuyển số tài khoản vừa chuyển tiền đến tài khoản của mình để chuyển trả lại tiền, tuy nhiên Đ nói với anh Nguyễn Xuân D1 là do người em xóa hết dữ liệu trên máy nên không có số tài khoản nữa, và sau đó tắt máy. Sau nhiều lần liên hệ Đ, để chuyển trả số tiền trên không được, sáng ngày 05 tháng 10 năm 2023 anh Nguyễn Xuân D1 nhận được số điện thoại của ngân hàng nói có khách hàng chuyển nhầm tiền vào số tài khoản của anh, Nguyễn Xuân D1 xác nhận đúng, sau đó ngân hàng hẹn anh Nguyễn Xuân D1 sẽ làm việc để chuyển lại tiền cho khách hàng, D1 đồng ý. Ngày 24/10/2023 Nguyễn Xuân D1 đã chủ động thông qua ngân hàng chuyển trả lại toàn bộ số tiền 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng) qua tài khoản 5101447379 Ngân hàng BIDV cho anh Hồ Sỹ H.
Đối với bị cáo Đ, sau khi chuyển tiền vào số tài khoản của anh Nguyễn Xuân D1, Đại tháo ốp lưng chiếc điện thoại của anh H ra rồi vứt qua cửa xe buýt khi xe đang đi trên đường N. Khi đến thành phố V, Đ cùng L đi đến phòng trọ của T, một người bạn ở huyện Q, nhưng T không có ở phòng, Đ cùng L đi đến phòng trọ của Lô Thị T1, sinh năm 2003, cư trú tại bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An (là bạn gái của Đ) lấy chìa khóa phòng của anh T, sau đó Đ và L quay lại phòng trọ của T để nghỉ ngơi. Tại đây Đ đã cài đặt lại chiếc điện thoại xóa trắng dữ liệu. Đến khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 04/10/2023, chị Lô Thị T1 mang cơm qua cho Đ, sau đó Đ nói với chị T1 chở Đ đến quán điện thoại có việc, chị T1 đồng ý chở Đ đi, sau đó Đ đã đến cửa hàng H2 số B đường L, thành phố V gặp anh Nguyễn Viết H1, sinh năm 1993, là chủ quán để bán chiếc điện thoại Iphone 11 Promax lấy trộm được vào tối ngày 03/10/2023. Do không biết đây là tài sản trộm cắp nên anh H1 đồng ý mua với giá 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng), sau đó anh H1 đã bán chiếc điện thoại này cho người khác, hiện không thu lại được. Số tiền bán điện thoại Đ đã tiêu xài cá nhân.
Đến ngày 05/10/2023 anh Hồ Sỹ H trình báo toàn bộ nội dung sự việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Ngày 06 tháng 10 năm 2023 Lữ Văn Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 65/KL-ĐGTS ngày 12/10/2023 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện Đ kết luận: Tại thời điểm tháng 10 năm 2023 giá trị của: một chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh dung lượng 256 GB đã mua cũ, hàng 99% vào khoảng tháng 3 năm 2020 và sử dụng cho đến nay, phía ngoài bị xước nhẹ vài vị trí, máy bị hỏng FaceID có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) và và một ốp nhựa trong suốt dùng cho điện thoại di động Iphone 11 Promax đã qua sử dụng từ khoảng tháng 7 năm 2023 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng), tổng giá trị tài sản bị Lữ Văn Đ lấy trộm vào ngày 04/10/2023 là 7.520.000 đồng (bảy triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản mà Lữ Văn Đ trộm cắp của anh Hồ Sỹ H là 39.520.000 đồng ( Ba mươi chín triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng)
Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 26/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An đã quyết định: áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lữ Văn Đ 24 ( Hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 06 tháng 10 năm 2023 đến ngày 15 tháng 10 năm 2023. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 30/01/2024 bị cáo Lữ Văn Đ có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo Lữ Văn Đ giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lữ Văn Đ, sửa Bản án hình sự sơ thẩm. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Lữ Văn Đ 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 06 tháng 10 năm 2023 đến ngày 15 tháng 10 năm 2023. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Bị cáo Lữ Văn Đ không có tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: bị cáo nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, nội dung đơn kháng cáo đúng quy định của pháp luật nên kháng cáo hợp lệ.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lữ Văn Đ: lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, phù hợp với các lời khai của người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận: bị cáo Lữ Văn Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Promax của ông Hồ Sỹ H, sau đó đăng nhập vào tài khoản ngân hàng của ông H chuyển số tiền 32.000.000 đồng vào tài khoản ông Nguyễn Xuân D1 nhằm chiếm đoạt. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Lữ Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lữ Văn Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sử hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội.
Xét thấy: quá trình điều tra Lữ Văn Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bồi thường khắc phục hậu quả, tự nguyện ra đầu thú khai báo về hành vi phạm tội, người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chiếm đoạt tài sản có giá trị không lớn, đã khắc phục thiệt hại và chủ động bồi thường thiệt hại cho bị hại. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với mức hình phạt 24 tháng tù là quá nghiêm khác. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội. Đồng thời cũng để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
Từ nhận định nêu trên, hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An là có căn cứ.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
[5] Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lữ Văn Đ, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 26/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.
- Về hình phạt:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lữ Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; thời hạn bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/10/2023 đến ngày 15/10/2023 được trừ vào thời gian thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội bị cáo Lữ Văn Đ1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhân :
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Sơn |
Bản án số 58/2024/HS-PT ngày 17/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 58/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lữ Văn Đ - Trộm cắp tài sản
