Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày: 17-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Bền.

2. Ông Tạ Công Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phục là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2024/TLST - HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1976 tại tỉnh Tiền Giang Tên gọi khác: Chẳn Em.

Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 18/01/2023, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Nơi cư trú: ấp Đ, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp làm thuê; trình độ học vấn 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Cù Thị Bé N; có vợ và 01 con; Tiền án 01 lần. Ngày 10/5/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 32/2019/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/01/2022, chưa được xóa án tích; Tiền sự không; Bị bắt, tạm giữ ngày 31/10/2023, tạm giam ngày 03/11/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Cù Thị Bé N, sinh năm 1944 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp Đ, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 12 giờ 15 phút ngày 31/10/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an huyện C phối hợp cùng Công an xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang tiến hành kiểm tra nhân khẩu hộ bà Cù Thị Bé N (là mẹ ruột của Nguyễn Văn H) địa chỉ ấp Đ, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Qua kiểm tra phát hiện Nguyễn Văn H đang ở trong phòng ngủ, có nhiều biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra khu vực xung quanh và bên trong phòng ngủ của H thì phát hiện có nhiều túi nylon, đoạn ống nhựa bên trong có tinh thể màu trắng nghi là ma túy và công cụ dùng để sử dụng ma túy nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn H. Theo lời khai của Nguyễn Văn H, trước thời điểm bị bắt quả tang là ngày 31/10/2023 khoảng 03 - 04 ngày, H có liên lạc với một người tên T ở Thành phố Hồ Chí Minh (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) để mua 1 gói ma túy với số tiền 7.000.000 đồng và hẹn giao hàng ở khu vực cầu “Kinh Xáng” tại ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Tại đây, T đưa cho H 01 gói ma túy và H trả cho T số tiền mặt là 7.000.000 đồng. Sau khi có được ma túy, H quay trở về nhà, vô phòng ngủ lấy ra một ít để sử dụng, số ma túy còn lại H phân chia ra thành nhiều gói nhỏ cất giấu với mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định số 189/KL-KTHS ngày 02/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

- Gói 1 (kí hiệu A1): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,1225 gam, loại Methamphetamine.

- Gói 2 (kí hiệu A2): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 15,4264 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu kí hiệu M2.1 có khối lượng 8,2832 gam, mẫu kí hiệu M2.2 có khối lượng 4,7970 gam, mẫu kí hiệu M2.3 có khối lượng 2,3462 gam).

- Gói 3 (kí hiệu A3): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 6,4658 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu kí hiệu M3.1 có khối lượng 2,1802 gam, mẫu kí hiệu M3.2 có khối lượng 1,7538 gam, mẫu kí hiệu M3.3 có khối lượng 0,5157 gam, mẫu kí hiệu M3.4 có khối lượng 0,5008 gam, mẫu kí hiệu M3.5 có khối lượng 0,5112 gam, mẫu kí hiệu M3.6 có khối lượng 0,5274 gam và mẫu kí hiệu M3.7 có khối lượng 0,4767 gam).

Như vậy, các tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng là 22,0147 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSCT ngày 17 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về trách nhiệm hình sự: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo có nhiều người thân là liệt sĩ và có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249, Điều 32, Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù; Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ: số ma tuý còn lại sau giám định; 01 (một) cân tiểu ly hình chữ nhật màu đen trắng; 02 (hai) đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu (được gọi là nỏ); 01 (một) túi zip màu trắng, một đầu có viền màu đỏ được vuốt kín bên trong có chứa nhiều túi nylon nhỏ (loại túi zip) một đầu có viền màu xanh được vuốt kín. Bên trong các túi nylon nhỏ không có chứa gì; 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật màu vàng.

Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo H nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo được sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với hành vi phạm tội theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Như vậy đã đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Văn H là đối tượng nghiện ma túy, có hành vi tàng trữ trái phép 22,0147 gam ma túy, loại Methamphetamine trong phòng ngủ của bị cáo địa chỉ tại ấp Đ, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang nhằm mục đích sử dụng trái phép thì bị phát hiện, bắt quả tang.

[3] Theo thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC- BTP ngày 24/12/2007 Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999 tại phần II tiểu mục 3.1 hướng dẫn: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người...) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này.

[4] Bị cáo có 01 tiền án về tội rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Ma túy có tác dụng gây nghiện đối với người sử dụng, rất khó từ bỏ được, người nghiện loại ma túy này mất dần khả năng lao động, học tập và làm việc, gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe và tinh thần, nếu không có ma túy để sử dụng những người nghiện ma túy sẽ có những hành vi nguy hiểm cho xã hội như trộm cắp, cướp giật, thậm chí giết người cướp tài sản để lấy tiền mua ma túy sử dụng, thỏa mãn cơn nghiện. Ma tuý còn là nguyên nhân dẫn đến sự tha hoá trong lối sống, làm suy đồi đạo đức của thế hệ thanh thiếu niên, ma túy còn là tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS, làm gia tăng tình hình tội phạm và các tệ nạn xã hội, xâm hại đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy cần phải có chế tài nghiêm khắc để xử phạt các tội phạm về ma tuý.

[6] Khi thực hiện tội phạm, bị cáo H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là phạm tội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm để thoả mãn cơn nghiện. Xét tính chất nguy hiểm của tội phạm do bị cáo H thực hiện, Hội đồng xét xử xem xét cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo từ bỏ con đường phạm tội và răn đe phòng ngừa chung.

[7] Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, gia đình bị cáo có nhiều người thân là liệt sĩ và có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Về vật chứng của vụ án: tịch thu tiêu huỷ số lượng ma túy còn lại sau giám định, gồm: 01 (một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số: 189/1 ghi ngày 02 tháng 11 năm 2023; có các chữ kí in họ tên: Huỳnh Tấn L1 (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lí giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Phạm Nguyễn Minh N1 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín chứa 0,1103 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 (một) vỏ đoạn ống nhựa màu xanh đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định; 01 (một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số: 189/2 ghi ngày 02 tháng 11 năm 2023; có các chữ kí in họ tên: Huỳnh Tấn L1 (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lí giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Phạm Nguyễn Minh N1 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 (một) gói nylon

màu trắng được dán kín (kí hiệu M2.1) chứa 8,0215 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M2.1); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M2.2) chứa 4,5235 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M2.2); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M2.3) chứa 2,2926 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M2.3); 03 (ba) vỏ gói nylon màu trắng, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip) đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định; 01 (một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số: 189/3 ghi ngày 02 tháng 11 năm 2023; có các chữ kí in họ tên: Huỳnh Tấn L1 (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lí giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Phạm Nguyễn Minh N1 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.1) chứa 2,1483 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.1); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.2) chứa 1,7214 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.2); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.3) chứa 0,4950 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.3); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.4) chứa 0,4820 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.4); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.5) chứa 0,4887 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.5); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.6) chứa 0,5053 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.6); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.7) chứa 0,4616 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.7); 16 (mười sáu) vỏ đoạn ống nhựa màu xanh, 09 (chín) vỏ đoạn ống nhựa màu tím, 02 (hai) vỏ đoạn ống nhựa màu cam, và 05 (năm) vỏ gói nylon màu trắng (loại túi zip) đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định; 01 (một) cân tiểu ly hình chữ nhật màu đen trắng; 02 (hai) đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu (được gọi là nỏ); 01 (một) túi zip màu trắng, một đầu có viền màu đỏ được vuốt kín bên trong có chứa nhiều túi nylon nhỏ (loại túi zip) một đầu có viền màu xanh được vuốt kín. Bên trong các túi nylon nhỏ không có chứa gì; 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật màu vàng.

[9] Đối với hành vi tàng trữ 02 (hai) đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu (được gọi là nỏ) của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng không cấu thành “Tội tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” qui định tại Điều 254 của Bộ luật hình sự, hành vi này vi phạm vào điểm c khoản 2 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 20/02/2024 đối với Nguyễn Văn H về hành vi “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” qui định tại điểm c khoản 2 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là có cơ sở.

[10] Theo lời khai của bị cáo H, bị cáo liên hệ mua ma túy của một người tên T ở Thành phố Hồ Chí Minh (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) và được T hẹn giao hàng tại khu vực cầu K. Do không xác định được nhân thân của đối tượng tên T nên không có cơ sở xác minh, làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

[11] Đối với bà Cù Thị Bé N (mẹ ruột của bị cáo H) là chủ hộ căn nhà bị cáo H đang sinh sống, không biết bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy trong phòng riêng để sử dụng, bà N cũng không thể vào bên trong phòng để kiểm tra. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà Bé N là có cơ sở.

[12] Xét đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ vào điểm g, o khoản 2 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 06 (sáu) năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 31/10/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu huỷ số lượng ma túy còn lại sau giám định, gồm:

- 01 (một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số: 189/1 ghi ngày 02 tháng 11 năm 2023; có các chữ kí in họ tên: Huỳnh Tấn L1 (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lí giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Phạm Nguyễn Minh N1 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín chứa 0,1103 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 (một) vỏ đoạn ống nhựa màu xanh đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.

- 01 (một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số: 189/2 ghi ngày 02 tháng 11 năm 2023; có các chữ kí in họ tên: Huỳnh Tấn L1 (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lí giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Phạm Nguyễn Minh N1 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M2.1) chứa 8,0215 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M2.1); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M2.2) chứa 4,5235 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M2.2); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán

kín (kí hiệu M2.3) chứa 2,2926 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M2.3); 03 (ba) vỏ gói nylon màu trắng, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip) đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.

- 01 (một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số: 189/3 ghi ngày 02 tháng 11 năm 2023; có các chữ kí in họ tên: Huỳnh Tấn L1 (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lí giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Phạm Nguyễn Minh N1 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.1) chứa 2,1483 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.1); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.2) chứa 1,7214 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.2); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.3) chứa 0,4950 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.3); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.4) chứa 0,4820 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.4); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.5) chứa 0,4887 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.5); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.6) chứa 0,5053 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.6); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.7) chứa 0,4616 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.7); 16 (mười sáu) vỏ đoạn ống nhựa màu xanh, 09 (chín) vỏ đoạn ống nhựa màu tím, 02 (hai) vỏ đoạn ống nhựa màu cam, và 05 (năm) vỏ gói nylon màu trắng (loại túi zip) đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.

Tịch thu tiêu hủy:

01 (một) cân tiểu ly hình chữ nhật màu đen trắng; 02 (hai) đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu (được gọi là nỏ); 01 (một) túi zip màu trắng, một đầu có viền màu đỏ được vuốt kín bên trong có chứa nhiều túi nylon nhỏ (loại túi zip) một đầu có viền màu xanh được vuốt kín. Bên trong các túi nylon nhỏ không có chứa gì; 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật màu vàng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang)

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng

cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Châu Thành;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - CQ.CSĐT CA H. Châu Thành;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an H. Châu Thành;
  • - Chi cục THADS H. Châu Thành;
  • - Bị cáo, người có liên quan;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: án hình sự tàng trữ trái phép chất ma tuý Nguyễn Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger