TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2023/HS-ST Ngày: 16/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Xuân Chỉnh
Ông Lê Trung Thành
-Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Nam Trực.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Nguyệt – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án huyện N, tỉnh Nam Định mở phiên toà sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 45/2023/HSST ngày 09 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/HSST-QĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phùng Thị Kim O; Sinh năm: 1966; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: Thôn D (xóm A cũ), xã T, huyện N, tỉnh Nam Định. Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không. Con ông: Phùng Thanh N, đã chết; Con bà: Phạm Thị L, sinh năm: 1935. Có chồng: Ninh Văn A, sinh năm 1965. Bị cáo có 2 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 1999.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/7/2023 đến ngày 29/9/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng bảo lĩnh cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Phạm Thị V, sinh năm 1973
Trú tại: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. (Tại phiên tòa, bà V có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo là người kinh doanh hàng thịt lợn tại chợ C, xã T, huyện N và chợ H, thôn Đ, xã N, huyện N nên từ năm 2010 đến đầu năm 2015, bị cáo dựng dây phường tiền do bị cáo làm chủ và mời gọi những người buôn bán trong chợ và những người dân xã N, huyện N tham gia chơi phường mục đích để những người tham gia có điều kiện tương trợ lẫn nhau về kinh tế. Từ năm 2010 đến đầu năm 2015, các dây phường do bị cáo làm chủ đều hoạt động đảm bảo thực hiện đúng quy tắc, thỏa thuận về phường, thứ tự lĩnh, lãi suất; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của những người tham gia.
Đến đầu năm 2015, sau khi bị mất quyển sổ ghi chép liên quan đến việc thu, chi các dây phường nên bị cáo không nhớ những người đã nhận tiền, những người chưa nhận tiền. Khi những người chưa nhận được tiền phường đã đến đòi tiền bị cáo, do không có tiền để trả nên bị cáo nảy sinh ý định dựng phường giả để lấy tiền của những người tham gia trả cho những người bị cáo đã nợ tiền phường trước. Khoảng tháng 6 năm 2015, bị cáo gặp chị Phạm Thị V tại N, xã N, huyện N, bị cáo nói dối với chị V hiện nay phường tiền do bị cáo dựng có 20 suất tham gia chơi (nhóm phường 1) và đã có 15 suất, những người tham gia chơi đều là người dân ở khu vực xã N, còn lại suất số 16, 17,18,19 và 20 chưa có người chơi, mỗi suất chơi đóng 1.000.000 đồng/tháng/suất, nếu người nào đã lấy phường rồi phải đóng 1.200.000 đồng/suất/tháng (trên thực tế là bị cáo không dựng phường và cũng không có ai tham gia chơi phường này). Bị cáo nói với chị V tham gia chơi từ suất thứ 16 đến suất 20. Do tin tưởng bị cáo nên chị V đã đồng ý tham gia chơi 5 suất phường còn lại từ số 16 đến 20. Từ ngày 27/6/2015 (tức ngày 12/5/2015 âm lịch) chị V bắt đầu đóng tiền phường cho bị cáo mỗi tháng 5.000.000 đồng/5 suất chơi, tổng số tiền chị V đã đóng cho bị cáo từ ngày 27/6/2015 đến ngày 11/11/2016 (tức ngày 12/10/2016 âm lịch), là 18 tháng x 5.000.000 đồng/tháng = 90.000.0000 đồng. Những lần chị V đóng tiền phường cho bị cáo tại chợ H, thôn Đ, xã N đều có chữ ký nhận tiền của bị cáo. Trong đó 02 lần đóng vào ngày 18/4/2016 (ngày 12/3/2016 âm lịch) và ngày 18/5/2016 (ngày 12/4/2016 âm lịch), chị V đã gửi tiền phường cho bà Vũ Thị N1, sinh năm 1959, trú tại xóm T, xã N 10.000.000 đồng đưa cho bị cáo.
Đến khoảng từ tháng 4/2016, bị cáo mời chị V tham gia chơi phường tiền do bị cáo làm chủ phường 20 suất (nhóm phường B). Bị cáo nói dối chị V hiện đã có 19 người tham gia chơi, còn lại suất số 20 chưa có người tham gia chơi, mỗi suất tham gia chơi đóng 1.000.000đồng/tháng/suất, nếu người nào đã lấy phường rồi phải đóng 1.200.000 đồng/suất/tháng (trên thực tế là bị cáo không dựng phường và cũng không có ai tham gia chơi phường này). Chị V đồng ý tham gia nhóm phường này, lấy số thứ tự 20. Từ ngày 05/4/2016 (tức ngày 28/2/2016 âm lịch) đến ngày 27/11/2016 (tức ngày 28/10/2016 âm lịch), chị V đã đóng cho bị cáo 9 lần, mỗi lần 1.000.000 đồng, tổng số tiền chị V đã đóng cho bị cáo của nhóm phường này là 9.000.000 đồng. Những lần nhận tiền bị cáo đều ký xác nhận đã nhận tiền, trong đó có 01 lần vào ngày 03/6/2016 (28/4/2016 âm lịch) chị V đã gửi tiền phường cho bà Vũ Thị N1 đưa lại cho bị cáo.
Trong thời gian chơi phường, chị V yêu cầu bị cáo cung cấp thành viên tham gia chơi phường nhưng bị cáo không cung cấp. Nhóm phường thứ nhất, chị V đã đóng cho bị cáo đến tháng thứ 18 nhưng không được bị cáo trả tiền phường như ban đầu đã thoả thuận. Nhóm phường thứ hai chị V đã đóng cho bị cáo được 9 suất. Đến đầu tháng 12/2016, nghe tin bị cáo bị vỡ nợ nên chị V đã đến tìm gặp bị cáo để đòi tiền phường nhưng bị cáo không trả cho chị V và cũng không cung cấp bất cứ thông tin gì về những thành viên tham gia chơi phường cùng chị V. Chị V đã dừng đóng phường ở nhóm 1 và nhóm 2. Tổng số tiền chị V đóng cả hai nhóm phường cho bị cáo là 99.000.000 đồng.
Do không lấy được tiền phường từ bị cáo nên ngày 10/4/2023, chị Phạm Thị V đã làm đơn tố cáo hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bị cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành khám xét chỗ ở của bị cáo nhưng không thu giữ tài liệu gì.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình.
Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo cùng với gia đình đã bồi thường khắc phục hậu quả cho chị Phạm Thị V số tiền 44.000.000 đồng. Chị V nhận tiền bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; số tiền còn lại 55.000.000 đồng, chị V cho bị cáo 15.000.000 đồng chỉ yêu cầu bị cáo trả số tiền 40.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 09/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Phùng Thị Kim O1 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 điều 139 Bộ luật Hình sự 1999.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Phùng Thị Kim O về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ điểm e khoản 2 điều 139; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, điểm g, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 1999: Xử phạt Phùng Thị Kim O từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù. Về TNDS: Căn cứ Điều 42 Bộ luật Hình sự 1999 buộc bị cáo phải trả cho bà Phạm Thị V số tiền 40.000.000 đồng.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a, điểm c Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và dân sự sơ thẩm là 2.000.000 đồng. Bị cáo, bà V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;
Bà V xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác như: biên bản ghi lời khai bị hại, biên bản ghi lời khai người làm chứng... Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Bằng thủ đoạn gian dối lập 02 phường tiền giả nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của chị Phạm Thị V. Lần thứ nhất từ ngày 27/6/2015 đến ngày 11/11/2016, bị cáo đã chiếm đoạt số tiền là 90.000.000 đồng và lần thứ hai từ ngày 05/4/2016 đến ngày 27/11/2016, bị cáo đã chiếm đoạt của chị V số tiền là 9.000.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức việc chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Số tiền bị cáo chiếm đoạt của chị V là 99.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm e khoản 2 điều 139 Bộ luật Hình sự 1999.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn, bị cáo đã cùng gia đình bồi thường số tiền 44.000.000 đồng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mẹ bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo hai lần thực hiện hành vi phạm tội và mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như chưa hết thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999.
[4] Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội cũng như răn đe và phòng ngừa chung.
[6]Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 42 Bộ luật Hình sự 1999, chấp nhận sự tự nguyện của bà V buộc bị cáo phải trả cho bà V số tiền là 40.000.000 đồng.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bà V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm e, khoản 2 điều 139; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 1999:
- Tuyên bố bị cáo Phùng Thị Kim O phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Xử phạt Phùng Thị Kim O 02(Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính kể từ bắt bị cáo đi thi hành án và trừ đi thời gian tạm giam trước đó từ ngày 20/7/2023 đến ngày 29/9/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 42 Bộ luật Hình sự 1999 chấp nhận sự tự nguyện của bà V buộc bị cáo phải trả cho bà V số tiền là 40.000.000 đồng.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Phùng Thị Kim O phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm là 2.000.000 (Hai triệu) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bà V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo, bà V có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Mạnh Cường |
Bản án số 58/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 58/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Thị Kim O - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
