Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày 16/4/2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Tuyết .

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thiện Lợi;
  2. Ông Trương Công Định.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2024/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn H, sinh ngày 20/9/1990, tại tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn S, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn R và bà Đặng Thị N, chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 55/2018/HSST ngày 14/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 27/10/2019 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 30/10/2018 đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm. Bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 02/01/2024 chuyển tạm giam đến nay.

* Người chứng kiến:

  1. Ông Lê Thanh T, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Số nhà H, đường P, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
  2. Anh Dương Ngọc H1, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Số nhà A, tổ E, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt ông T, anh H1).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/12/2023 Trần Văn H đi xe buýt từ nhà lên thành phố T, sau đó đi bộ đến khu vực đường L, tổ A, phường K, thành phố T gặp và mua 07 gói ma túy với giá 1.050.000 đồng của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ rồi đi tìm chỗ sử dụng. Đến 16 giờ 15 phút cùng ngày H đang đi bộ trên đường L, tổ A, phường Đ, thành phố T thì bị tổ công tác Công an thành phố T phát hiện. Trước sự chứng kiến của ông Lê Thanh T và anh Dương Ngọc H1, H tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 túi ni lon trong suốt có mép cài viền màu đỏ bên trong có 07 gói đều được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy, loại Heroine của H cất dấu với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Bản kết luận giám định số 1907/KL-KTHS ngày 01/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu vật quản lý của Trần Văn H gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,8492 gam”.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi của mình như bản cáo trạng đã nêu.

Bản cáo trạng số 67/CT-VKSTPTB ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số Heroine còn lại sau giám định.

* Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không bào chữa và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bằng:

Biên bản bắt người phạm tội quả. Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ. Bản kết luận giám định số 1907/KL-KTHS ngày 01/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T. Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến. Các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 15 phút, ngày 27/12/2023 tại đường L, tổ A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình bắt quả tang Trần Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 07 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,8492 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

[3] Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng là người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án đưa ra xét xử. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

[5.1] Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải xử phạt mức hình phạt nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[5.2] Hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ lượng ma túy nhiều, Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo 7.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về vật chứng của vụ án: Số Heroine còn lại sau giám định là 0,7914 gam thu giữ của bị cáo, đây là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi, không biết tên và địa chỉ tại khu vực đường L, tổ A, phường K, thành phố T vào ngày 27/12/2023 nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự;
  • - Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/12/2023.

    Phạt bổ sung bị cáo 7.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số Heroine còn lại sau giám định là 0,7914 gam trong phong bì niêm phong số 1907/KL-KTHS ngày 01/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T.

    (Vật chứng Công an thành phố T đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 26/3/2024).

  4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/4/2024)./.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Tòa án ND tỉnh TB;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND TP Thái Bình;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Bình;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP Thái Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS TP Thái Bình;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H phạm tội tàng trữ TTCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger