Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM THÀNH

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày: 16/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hứa Thị Hương và ông Phạm Văn Chỉ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng Nga, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 06/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐHPT-HS ngày 11/7/2024; Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số 42/TB-TA ngày 23/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QĐHPT-HS ngày 01/8/2024, đối với bị cáo Lương Văn T, sinh năm 1989. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Lái xe. Con ông Lương Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1. Có vợ là Đỗ Thị D và 03 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  1. Lưu Ngọc oanh (Đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại Lưu Ngọc O:

  1. Chị Hà Thị T2, sinh năm 1985 (Là vợ bị hại Lưu Ngọc O)
  2. Cháu Lưu Ngọc Bảo T3, sinh năm 2011. (Là con bị hại O).
  3. Đều cư trú: Tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
  4. Ông Lưu Văn T4, sinh năm 1952. (Là bố bị hại Lưu Ngọc O).
  5. Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1954 (là mẹ bị hại Lưu Ngọc O).
  6. Đều cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Hà Thị T2, cháu Lưu Ngọc Bảo T3, ông Lưu Văn T4: Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1954. Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

(Chị T2, cháu T3, ông T4 đã ủy quyền cho bà T5 tham gia tố tụng, giải quyết vụ án – Theo Bản họp gia đình về việc ủy quyền ngày 22/01/2024).

  1. Công ty TNHH T11. Địa chỉ: Thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T6. Chức vụ: Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quang T7. Địa chỉ: Xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty cổ phần Đ1. Đại diện: Ông Vương Trí T8. Chức vụ: Phó Tổng Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Phương Đ. Chức vụ: Nhân viên Công ty cổ phần Đ1. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lương Văn T có giấy phép lái xe hạng C (do Sở G cấp ngày 05/10/2022, có giá trị đến ngày 05/10/2027). Khoảng 05 giờ ngày 23/11/2023, T điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu HYUNDAI loại tải trọng 3250kg, sơn màu trắng, biển số 16H-9043 của anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1977, trú tại thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương chở sắt phế liệu từ thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương đi giao hàng tại thành phố Hải Phòng (T lái xe ô tô thuê cho anh H1). Khoảng 05 giờ 15 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô trên đi đến Km 68+500 đường Quốc lộ 5 theo chiều đường H - Hà Nội thuộc địa phận thôn P, xã K. Đây là đoạn đường thẳng, mặt đường mới được trải nhựa áp phan phẳng rộng 14,10 mét, chưa kẻ vạch sơn phân chia làn đường. Giáp mép đường bên trái theo chiều đường H - Hà Nội là giải phân cách giữa rộng 1,40 mét, tại đây có lối mở rộng 5,50 mét sang chiều đường H - Hải Phòng. Đoạn đường này nằm trong phạm vi các biển báo hiệu đường bộ 423b (đường người đi bộ sang ngang); 207b (nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên bên phải); 124c (cấm rẽ trái và quay đầu xe); 127 (tốc độ tối đa cho phép 50km/h). Lúc này trời tối, T điều khiển xe bật đèn chiếu sáng đi bên phải chiều đường, sau đó dừng xe quan sát về phía Hải Phòng không có người và phương tiện tham gia giao thông nên T đã bật xi nhan trái rồi điều khiển xe chuyển hướng rẽ sang bên trái đường hướng vào lối mở dải phân cách giữa để sang chiều đường H - Hải Phòng. Khi đi đến lối mở, do chiều đường H - Hải Phòng đang có người và phương tiện di chuyển nên T dừng xe ngang chiều đường H - Hà Nội để chờ, phần đầu xe ở giữa lối mở. Khi dừng xe, T nhìn qua cửa kính bên trái thấy cách khoảng 50 mét về hướng Hải Phòng có

xe ô tô đầu kéo sơn màu trắng, biển số 34C-200.71, kéo rơ moóc biển số 15R-002.67 (là tài sản của Công ty TNHH T11, địa chỉ thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương) do anh Lưu Ngọc O, sinh năm 1978, trú tại thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (là lái xe hợp đồng của Công ty TNHH T11) điều khiển đang đi từ phía bên trái chiều đường H - Hà Nội đến, nhưng do trên chiều đường H - Hải Phòng có phương tiện đang di chuyển đến lối mở nên T không có biện pháp xử lý gì, dẫn đến phần đầu xe ô tô đầu kéo (gồm: Ba đờ xốc bên trái, biển số xe, mặt trước khung cabin, mặt ga lăng...) do anh O điều khiển va chạm vào ngang sườn phía sau bên trái xe ô tô tải (gồm: Mặt ngoài má lốp bánh ngoài của dàn lốp đôi sau bên trái, sườn sau thành thùng xe bên trái) do T điều khiển. Sau khi xảy ra va chạm, đầu ca bin xe ô tô đầu kéo bị bẹp méo biến dạng, xô lệch về phía sau ép sát vào sườn bên trái xe ô tô tải, anh O bị kẹt trong ca bin xe ô tô đầu kéo và bị chấn thương, được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh H cấp cứu, đến 10 giờ 30 phút cùng ngày, anh O bị chết tại bệnh viện; xe ô tô đầu kéo biển số 34C-200.71 bị hư hỏng nặng.

Tại sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường là đoạn đường thẳng một chiều xe chạy, mặt đường mới được trải nhựa áp phan bằng phẳng rộng 14,10m, chưa kẻ vạch sơn phân làn đường. Giáp mép đường bên phải là khu vực lề đường và khu dân cư sinh sống, có lối mở rộng 7,80 mét vào đường thôn P, xã K (thống nhất lấy chiều phải trái tính theo chiều Hải Phòng - Hà Nội, lấy tâm lối mở vào thôn P làm mốc, lấy mép đường bên trái làm chuẩn). Tại đầu lối mở phía Hà Nội có biển báo hiệu đường bộ 423b (đường người đi bộ sang ngang). Từ đầu lối mở về phía Hải Phòng 88 mét là biển báo hiệu đường bộ 207b (nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên bên phải), từ biển báo này cách về hướng Hải Phòng 38 mét là biển báo hiệu đường bộ 124c (cấm rẽ trái và quay đầu xe), tiếp đến về hướng Hải Phòng 58 mét là biển báo 127 (tốc độ tối đa cho phép 50km/h). Giáp mép đường bên trái là dải phân cách giữa rộng 1,40 mét, có lối mở rộng 5,50 mét sang chiều đường H - Hải Phòng. Tại đầu lối mở về phía Hà Nội là cột Km 68 +500 đang trong quá trình thi công đoạn đường nên chưa lắp đặt lại. Từ tâm lối mở vào thôn P cách về phía Hải Phòng 2,60 mét đối diện sang bên trái đường là tâm trục bánh sau cùng bên phải rơ moóc biển số 15R-002.67, được kéo bởi xe ô tô đầu kéo biển số 34C-200.71 đang đỗ phía bên trái chiều đường H - Hà Nội. Đầu kéo quay ngoặt sang bên trái đường hướng dải phân cách giữa, đuôi xe hướng Hải Phòng, tâm trục bánh trước, bánh sau cùng bên phải xe ôtô đầu kéo biển số 34C-200.71 cách mép trái đường lần lượt là 1,60 mét và 5,50 mét. T9 bánh sau cùng bên trái rơ moóc biển số 15R-002.67 cách mép đường bên trái 1,70 mét. Toàn bộ phần trước đầu xe ôtô đầu kéo biển số 34C-200.71 áp sát chạm vào phía sau sườn bên trái xe ô tô tải biển số 16H-9043 đang đỗ bên trái đường, 1/2 phía sau bên phải xe ô tô tải trên dải phân cách giữa, đầu xe hướng Hải Phòng, đuôi xe hướng Hà Nội, tâm trục bánh trước, bánh sau bên phải xe cách mép trái đường lần lượt là 0,30 mét và 1,10 mét. Từ tâm trục bánh sau cùng bên phải rơ moóc biển số 15R-002.67 cách về phía Hà Nội 1,40 mét đối diện sang bên trái đường là đầu vết trà miết (vết phanh) chiều Hải Phòng - Hà Nội, kích thước 3,80m x 0,40m, đầu vết,

cuối vết cách mép trái đường lần lượt là 3,40 mét và 3,20 mét (vết 1). Cuối vết (1) cách về phía Hà Nội 1,20 mét là tâm vùng kính vỡ, sắt vụn rơi vãi trên mặt đường, kích thước 9m x 4m, tâm vùng cách mép trái đường 02 mét (vết 2). Vùng vết (2) trên mặt đường dưới gầm xe ô tô tải biển số 16H-9043 và xe ôtô đầu kéo biển số 34C-200.71, kéo rơ moóc biển số 15R-002.67.

Tại biên bản khám nghiệm xe ô tô đầu kéo sơn màu trắng, biển số 34C-200.71, kéo rơ moóc biển số 15R-002.67 có các dấu vết sau: Hệ thống bót lái gẫy rời khỏi vị trí của xe: Tại mặt ngoài phía trước có vết sạch dầu mỡ, xước kim loại, kích thước 32cm x 20cm, hướng từ trước về sau. Mặt ngoài phía trước đầu ba đờ xốc bên trái và biển số 34C-200.71 có vết xước, bẹp méo biến dạng kim loại còn bám dính chất bẩn màu đen (dạng cao su), kích thước 1,30m x 0,30m, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 68cm, từ dấu vết này làm cho đầu ba đờ xốc bên trái bẹp méo lõm từ trước về sau, sâu so với vị trí ban đầu 17cm. Toàn bộ mặt trước khung cabin, mặt ga lăng, két làm mát, kính chắn gió, cánh cửa xe bên trái có vết va đập bẹp méo, rách vỡ các bô xít, rách bẹp méo biến dạng kim loại, vỡ kính chắn gió, kích thước 2,30m x 02m, từ dấu vết này làm cho ca bin xe bị xô lệch biến dạng từ trước về sau so với vị trí ban đầu 80cm.

Tại biên bản khám nghiệm xe ô tô tải sơn màu trắng, biển số 16H-9043 có các dấu vết sau: Xe gồm 02 trục bánh lốp. Mặt ngoài má lốp bánh ngoài của dàn lốp đôi sau bên trái có vết xước rách, trà miết cao su sạch bụi bẩn, bẹp méo kim loại la răng bánh xe, kích thước 2,20m x 0,22m có chiều xung quanh bánh lốp, từ trái sang phải, từ dấu vết này làm cho trục bánh sau bị xô lệch theo chiều từ trái sang phải ép sát vào nhíp sau bên trái làm cho nhíp bật rời khỏi vị trí ban đầu và làm cho sắt xi dọc bên trái bị cong vênh xô lệch từ trái sang phải. Tại má lốp trong, vành trong của lốp trong dàn lốp đôi phía sau bên trái có vết xước cao su, bẹp méo kim loại bề mặt còn bám dính bột bê tông xi măng màu trắng, kích thước 50cm x 22cm, điểm gần nhất cách chân van theo chiều kim đồng hồ 15cm, hướng từ phải sang trái. Tại sườn sau thành thùng xe bên trái có vết va đập bẹp méo biến dạng kim loại bề mặt còn bám dính tạp chất màu trắng (dạng sơn), kích thước 2,60m x 1,50m, điểm gần nhất cao cách mặt đất 98cm, từ dấu vết này làm cho thành thùng xe bị bẹp méo, xô lệch theo hướng từ trái sang phải. Mặt ngoài đầu phía sau thanh kim loại bắt giữ nhíp sau bên phải có vết xước kim loại, bề mặt còn bám dính tạp chất màu trắng (bột kim loại), kích thước 20cm x 10cm, hướng từ phải sang trái.

Kết luận giám định tử thi số 413/KLGĐTT-KTHS ngày 29/11/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Nạn nhân Lưu Ngọc O bị chết do đa chấn thương (chấn thương bụng kín; gãy xương đùi trái). Tổn thương do vật tày chèn ép gây nên là phù hợp.

Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K ngày 11/12/2023 kết luận: Tổng giá trị thiệt hại phần bị hư hỏng của xe ô tô đầu kéo biển số 34C-200.71 là 171.043.800 đồng. Tổng giá trị thiệt hại phần bị hư hỏng của xe ô tô biển số 16H-9043 là 20.824.000 đồng.

Tại biên bản kiểm tra không có nồng độ cồn trong hơi thở của T, T10 ma túy đối với T cho kết quả âm tính.

Ngày 23/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tạm quản lý xe ô tô đầu kéo biển số 34C-200.71, kéo rơ moóc biển số 15R-002.67 và xe ô tô tải biển số 16H-9043 cùng giấy tờ của 02 xe và giấy phép lái xe hạng C mang tên Lương Văn T, sau đó đã trả lại xe ô tô đầu kéo, kéo rơ moóc trên cùng giấy tờ xe cho cho Công ty TNHH T11 và trả lại xe ô tô tải biển số 16H-9043 cùng giấy tờ xe cho anh Nguyễn Văn H1. Quá trình điều tra, T đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong cho gia đình anh O số tiền 130.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại xong cho Công ty TNHH T11 số tiền 60.000.000 đồng. Anh Nguyễn Văn H1 không yêu cầu T và gia đình anh O phải bồi thường thiệt hại. Bà Nguyễn Thị T5 (mẹ bị hại O), sinh năm 1954, trú tại: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương là người đại diện theo ủy quyền của gia đình anh O và anh Nguyễn Văn T6, sinh năm 1984, trú tại thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương là người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH T11 đã làm đơn đề nghị xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho T. Ông T6 không yêu cầu gia đình anh O phải bồi thường thiệt hại.

Sau khi xảy ra tai nạn, phần dầu của hai xe chảy ra mặt đường bê tông nhựa PMB-I do Công ty Cổ phần Đ1 mới thi công, Lương Văn T đã tự nguyện bồi thường cho Công ty Cổ phần Đ1 số tiền 6.000.000 đồng.

Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 15/5/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố Lương Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a và điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng, không oan và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.

Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại Lưu Ngọc O là bà Nguyễn Thị T5 và đại diện theo ủy quyền của bị hại Công ty TNHH T11 là ông Trần Quang T7 đều xin vắng mặt tại phiên tòa, xác định đã nhận được đủ tiền bồi thường theo thỏa thuận và tự nguyện không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H1 xin vắng mặt tại phiên tòa và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo; Công ty cổ phần Đ1, đại diện theo ủy quyền là ông Bùi Phương Đ xin vắng mặt tại phiên tòa và xác định đã nhận đủ tiền bồi thường theo thỏa thuận và tự nguyện không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ điểm a, điểm d khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 41 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 21 tháng đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 42 tháng đến 48 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo Lương Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô từ 12 tháng đến 15 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết.

Về Giấy phép lái xe của bị cáo: Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe mang tên Lương Văn T sau khi hết thời hạn cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại là bà Nguyễn Thị T5; người đại Đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH T11 là ông Trần Quang T7; đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần Đ1 là ông Bùi Phương Đ và ông Nguyễn Văn H1, đều xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.

[3] Về hành vi của bị cáo và các chứng cứ xác định tội: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm có cơ sở xác định: Khoảng 05 giờ 15 phút ngày

23/11/2023, tại Km 60+500 Quốc lộ E, chiều đường H - Hà Nội, khu vực lối mở của dải phân cách giữa đường thuộc địa phận thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương, Lương Văn T (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô tải biển số 16H-9043 đi bên phải chiều đường H - Hà Nội, chuyển hướng rẽ sang bên trái đường hướng vào lối mở dải phân cách giữa để sang chiều đường H - Hải Phòng, trong phạm vi biển báo cấm rẽ trái và quay đầu xe, đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ nên phần ngang sườn phía sau bên trái xe ô tô tải do T điều khiển đã xảy ra va chạm với phần đầu xe ô tô đầu kéo biển số 34C-200.71, là tài sản của Công ty TNHH T11 do anh Lưu Ngọc O điều khiển đang đi từ bên trái chiều đường H - Hà Nội đến. Hậu quả vụ tai nạn giao thông làm anh O bị đa chấn thương, chết tại bệnh viện; xe ô tô đầu kéo biển số 34C-200.71 bị hư hỏng, thiệt hại trị giá 171.043.800 đồng; xe ô tô tải BKS 16H-9043 bị cáo điều khiển bị hư hỏng, thiệt hại 20.824.000 đồng.

Như vậy, bị cáo T điều khiển xe ô tô tham gia giao thông, do thiếu chú ý quan sát, chuyển hướng rẽ trái quay đầu xe không đúng nơi quy định. Bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo là nguyên nhân trực tiếp và lỗi do bị cáo gây ra trong vụ tai nạn giao thông làm anh O bị đa chấn thương, chết tại bệnh viện; xe ô tô đầu kéo biển số 34C-200.71 bị hư hỏng, thiệt hại trị giá 171.043.800 đồng; xe ô tô tải BKS 16H-9043 bị cáo điều khiển bị hư hỏng, thiệt hại 20.824.000 đồng.

Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 15/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương và lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tại phiên tòa, đã truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a “Làm chết người” và điểm d “Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Luật giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng và tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến an toàn giao thông công cộng. Bị cáo có Giấy phép lái xe theo quy định nhưng đã không tuân thủ Luật giao thông đường bộ, gây tai nạn giao thông. Bản thân bị hại Lưu Ngọc O khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đã thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, tay lái, đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1, đây cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn nêu trên.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thái độ thực sự ăn năn hối cải; bị hại O cũng có một phần lỗi trong vụ tai nạn; sau khi gây tai nạn,

bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả đối với bị hại; trong giai đoạn điều tra, bị hại là Công ty TNHH T11 và DV Nguyễn T6 và đại diện gia đình bị hại Lưu Ngọc O xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự; trong quá trình chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về quyết định hình phạt:

Hình phạt chính: Xét việc bị cáo không có tiền án, tiền sự; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đầy đủ theo thỏa thuận; bản thân bị hại Lưu Ngọc O cũng có một phần lỗi dẫn đến vụ tai nạn giao thông; đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét cần giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo và không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 41; khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự, do bị cáo là người hành nghề lái xe ô tô, không chấp hành nghiêm quy định khi tham gia giao thông, có lỗi chính trong vụ tai nạn giao thông, nên cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường xong theo thỏa thuận cho gia đình bị hại Lưu Ngọc O tổng số tiền 130.000.000 đồng; bồi thường thiệt hại xong theo thỏa thuận cho Công ty TNHH T11 số tiền 60.000.000 đồng; bồi thường thiệt hại xong theo thỏa thuận cho Công ty cổ phần Đ1 số tiền 6.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn H1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.

[6] Về vật chứng của vụ án: Ngày 23/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tạm quản lý xe ô tô đầu kéo biển số 34C-200.71, kéo rơ moóc biển số 15R-002.67 và xe ô tô tải biển số 16H-9043 cùng giấy tờ của 02 xe và giấy phép lái xe hạng C mang tên Lương Văn T, sau đó đã trả lại xe ô tô đầu kéo, kéo rơ moóc trên cùng giấy tờ xe cho cho Công ty TNHH T11 và trả lại xe ô tô tải biển số 16H-9043 cùng giấy tờ xe cho anh Nguyễn Văn H1, là phù hợp.

Đối với 01 Giấy phép lái xe mang tên Lương Văn T, cần lưu tại hồ sơ vụ án và trả lại cho bị cáo T sau khi hết thời hạn cấm bị cáo lái xe ô tô.

[7] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lương Văn T bị kết án, nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.

* Trong vụ án này: Đối với bị hại Lưu Ngọc O khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đã thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, tay lái, đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1. Do anh O đã chết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đặt ra việc xử lý, là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, điểm d khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 41 Bộ luật hình sự.

  1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt:

    - Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lương Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo Lương Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú trong phạm vi huyện, quân, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm chuyển hồ sơ thi hành án treo cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    - Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Lương Văn Tiến h nghề lái xe ô tô 01 (một) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

    * Lưu tại hồ sơ vụ án và trả lại bị cáo T 01 Giấy phép lái xe số/ No: 300095300749 mang tên Lương Văn T (Do Sở GTVT tỉnh G cấp ngày

05/10/2022, có giá trị đến ngày 05/10/2027) sau khi hết thời hạn cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô.

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lương Văn T phải chịu 200.000đồng án phí sơ thẩm hình sự.
  2. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án phần có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Kim Thành;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan THAHS - Công an huyện Kim Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Thành;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Công an huyện Kim Thành;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, hồ sơ THA hình sự, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger