|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58 /2024/KDTM-ST Ngày: 06/5/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đinh Ngọc Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hà
- Bà Nguyễn Thị Thụy
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh– Thư ký Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Mai P – Kiểm sát viên.
Ngày 06/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 139/2023/TLST-KDTM ngày 24 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST-KDTM ngày 12/04/2024 giữa;
Nguyên đơn: Công ty TNHH Đ; Địa chỉ trụ sở chính: Tầng F tòa nhà I, I N, quận P, thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Việt H – Chức vụ: Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Quách Minh T, ông Hoàng Ngọc Q, bà Nguyễn Diệu L (Ông Q, bà L có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty TNHH Đ: Luật sư Nguyễn Lê Hạnh L1 - Công ty L3. (Xin vắng mặt)
- Bị đơn: Công ty cổ phần T4; Trụ sở: Số A phố Đ, quận B, thành phố Hà Nội, Người đại diện theo pháp luật là: Ông Nguyễn Đức T1, Chức vụ: Giám Đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trương Thị T2; Bà Nguyễn Thảo L2. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty cổ phần T4: Ông Nguyễn Đức T3 - Công ty L4. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Công ty TNHH Đ trình bày:
1. Ngày 24/03/2021, Công ty TNHH Đ và Công ty Cổ phần T4 đã ký Hợp đồng mua bán số CT49-KT-PJ-0321 để mua bán sản phẩm máy điều hòa, giá trị hợp đồng: 39.695.710.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng, nguyên đơn đã giao đủ sản phẩm cho bị đơn được thể hiện qua phiếu giao hàng, phiếu xuất kho có sự xác nhận của bị đơn, Nguyên đơn đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng.
Ngày 27/04/2021, Công ty TNHH Đ và Công ty Cổ phần T4 đã ký phụ lục của Hợp đồng mua bán số CT49-KT-PJ-0321, nội dung điều chỉnh số lượng sản phẩm.
2. Ngày 19/06/2021, Công ty TNHH Đ và Công ty Cổ phần T4 đã ký Hợp đồng mua bán số CT05-HN-PJ-0621 để mua bán sản phẩm máy điều hòa, giá trị hợp đồng: 4.184.338.400 đồng. Sau khi ký hợp đồng, nguyên đơn đã giao đủ sản phẩm cho bị đơn được thể hiện qua phiếu giao hàng, phiếu xuất kho có sự xác nhận của bị đơn. Nguyên đơn đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng.
Ngày 06/08/2021, Công ty TNHH Đ và Công ty Cổ phần T4 đã ký phụ lục của Hợp đồng mua bán số CT05-HN-PJ-0621, nội dung điều chỉnh số lượng sản phẩm
3. Ngày 10/11/2021, Công ty TNHH Đ và Công ty Cổ phần T4 đã ký Hợp đồng mua bán số CT025-DT-PJ-0921 để mua bán sản phẩm máy điều hòa, giá trị hợp đồng: 388.176.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng, nguyên đơn đã giao đủ sản phẩm cho bị đơn được thể hiện qua phiếu giao hàng, phiếu xuất kho có sự xác nhận của bị đơn. Nguyên đơn đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 22/11/2023Công ty Cổ phần Thương mại và Đầu tư M đã trả được cho nguyên đơn 200.000.000 đồng. Ngày 06/02/2024 Công ty Cổ phần T4 đã trả được cho nguyên đơn 300.000.000 đồng.
Công ty TNHH Đ đề nghị Toà án giải quyết: Buộc Công ty cổ phần T4 phải trả số tiền mua hàng gốc chưa thanh toán là: 20.810.126.104 đồng (Thể hiện qua 09 hóa đơn đã được chuyển cho bị đơn); tiền lãi chậm trả trên số tiền mua hàng chưa thanh toán tính đến ngày 06/5/2024: 4.661.706.923 đồng (Theo Điều 306 Luật Thương mại) Tổng số tiền Công ty T4 phải trả cho Công ty Đ là: 25.471.833.027 đồng.
Tiền lãi được tính cụ thể như sau: Lãi suất quá hạn tương đương 150% mức lãi suất cơ bản của ba Ngân hàng là 9,7%. (Ngân hàng A là 7%, Ngân hàng B là 6%, Ngân hàng V là 6,4%).
Đối với Hợp đồng CT 49-KT-PJ-0321 gồm 05 hóa đơn:
- - Hóa đơn 0003511 ngày 01/10/2021 được tính lãi từ ngày 30/11/2021 đến ngày 06/05/2024 là 886 ngày x 975.757.889 đồng x 9,7% = 230.268.169 đồng.
- - Hóa đơn 0003573 ngày 22/10/2021 được tính lãi từ ngày 21/12/2021 đến ngày 06/05/2024 là 843 ngày x 1.961.000.085 đồng x 9,7% = 451.830.537 đồng.
- - Hóa đơn 0003572 ngày 22/10/2021 được tính lãi từ ngày 21/12/2021 đến ngày 06/05/2024 là 867 ngày x 1.541.454.385 đồng x 9,7% = 355.163.760 đồng.
- - Hóa đơn 0003589 ngày 26/10/2021 được tính lãi từ ngày 25/12/2021 đến ngày 06/05/2024 là 863 ngày x 3.362.013.830 đồng x 9,7% = 771.061.753 đồng.
- - Hóa đơn 0003758 ngày 29/11/2021 được tính lãi từ ngày 28/01/2022 đến ngày 06/05/2024 là 829 ngày x 9.505.562.155 đồng x 9,7% = 2.094.166.492 đồng.
Đối với Hợp đồng CT 005-HN-PJ-0621 gồm 03 hóa đơn:
- - Hóa đơn 0003818 ngày 17/12/2021 được tính lãi từ ngày 31/01/2022 đến ngày 06/05/2024 là 826 ngày x 1.620.433.200 đồng x 9,7% = 355.702.870 đồng.
- - Hóa đơn 00000023 ngày 23/12/2021 được tính lãi từ ngày 06/02/2022 đến ngày 06/05/2024 là 820 ngày x 1.493.876.560 đồng x 9,7% = 325.542.306 đồng.
- - Hóa đơn 00000024 ngày 23/12/2021 được tính lãi từ ngày 06/02/2022 đến ngày 06/05/2024 là 820 ngày x 227.634.000 đồng x 9,7% = 49.605.502 đồng.
Đối với Hợp đồng CT 025-DT-PJ-0921 gồm 01 hóa đơn:
- - Hóa đơn 0003792 ngày 09/12/2021 được tính lãi từ ngày 16/12/2021 đến ngày 06/05/2024 là 872 ngày x 122.404.000 đồng x 9,7% = 28.365.534 đồng.
Tài liệu chứng cứ chứng minh đối với với yêu khởi kiện về số tiền gốc là các hợp đồng mua bán, các hóa đơn giá trị gia tăng, biên bản giao nhận hàng, thư nhắc thanh toán, biên bản xác nhận công nợ.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty cổ phần T4 là bà Nguyễn Thảo L2 trình bày:
Công ty cổ phần T4 xác nhận có ký kết 03 Hợp đồng mua bán và 02 phụ lục hợp đồng đúng như nguyên đơn trình bày. Hợp đồng CT 025-DT-PJ-0921 gồm 01 hóa đơn: Hợp đồng CT 005-HN-PJ-0621 gồm 03 hóa đơn: Hợp đồng CT 49-KT-PJ-0321 gồm 05 hóa đơn.
Đối với số tiền gốc, bị đơn không đồng ý với số tiền gốc nguyên đơn đưa ra. Vì nguyên đơn chưa trừ số tiền mà bị đơn đã tạm ứng 53.622.140 đồng. Số tiền tạm ứng này bị đơn chưa xuất trình được tài liệu chứng minh tạm ứng ngày nào, tạm ứng cho ai, chuyển khoản hay tiền mặt.
Công ty CP T4 xác nhận còn nợ nguyên đơn số tiền gốc là: 20.756.503.964 đồng. Tuy nhiên do Công ty đang gặp khó khăn nên mong muốn nguyên đơn cho bị đơn đưa ra lộ trình trả nợ.
Đối với số tiền lãi, căn cứ theo Hợp đồng mua bán, hai bên không thỏa thuận về lãi nên bị đơn không có nghĩa vụ trả lãi cho nguyên đơn.
Đối với số tiền lãi mà nguyên đơn căn cứ Điều 306 Luật Thương mại để yêu cầu bị đơn thanh toán là không đúng quy định trong hợp đồng.
Cách tính lãi của nguyên đơn không đúng quy định của pháp luật vì theo quy định của Ngân hàng thì 06 tháng Ngân hàng sẽ điều chỉnh lãi suất 1 lần và có Quyết định công bố lãi suất.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
Bị đơn giữ nguyên lời khai.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty CP T4 trình bày: Đối với số tiền gốc, các bên chưa có giấy xác nhận công nợ. Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là không hợp pháp vì trong hợp đồng không thỏa thuận về lãi nên không có căn cứ tính lãi. Đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- + Về thẩm quyền: Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- + Xác định đúng tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng theo Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự;
- + Tiến hành hòa giải, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, công bố chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ theo các Điều 208, 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- + Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ đúng theo trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
- + Quyết định đưa vụ án ra xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự và đã được tống đạt hợp lệ cho các đương sự;
- + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- + Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định tại chương XIV và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- + Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 85, Điều 86 Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- + Về hình thức và nội dung Hợp đồng mua bán được các bên ký kết dựa trên cơ sở tự nguyện, theo đúng quy định pháp luật.
Từ những phân tích nhận định trên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 306 Luật Thương mại; Điều 357;Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Áp dụng Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng:
Căn cứ vào đơn khởi kiện, nguyên đơn Công ty TNHH Đ yêu cầu Công ty CP T4 phải thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng mua bán số CT 49-KT-PJ-0321 ngày 24/03/2021 và Hợp đồng mua bán số CT 05-HN-PJ-0621 ngày 19/06/2021; Hợp đồng mua bán số CT 025-DT-PJ-0921 ngày 10/11/2021 nên xác định đây là vụ án Kinh doanh thương mại tranh chấp về Hợp đồng mua bán. Công ty CP T4 có trụ sở tại số A phố Đ, quận B, thành phố Hà Nội nên Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý giải quyết vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2].Về nội dung:
Công ty TNHH Đ và Công ty CP T4 đã ký Hợp đồng mua bán số CT 49-KT-PJ-0321 ngày 24/03/2021 và Hợp đồng mua bán số CT 05-HN-PJ-0621 ngày 19/06/2021; Hợp đồng mua bán số CT 025-DT-PJ-0921 ngày 10/11/2021về việc mua bán sản phẩm máy điều hòa. Số lượng hàng hóa được giao theo đơn đặt hàng quy định trong hợp đồng.
Thực hiện các hợp đồng trên, Công ty TNHH Đ đã cung cấp và bàn giao đầy đủ số lượng theo hợp đồng đã ký kết đồng thời xuất đủ 09 hóa đơn và đã gửi cho bị đơn. Công ty TNHH Đ đề nghị Toà án giải quyết buộc Công ty cổ phần T4 phải trả số tiền mua hàng gốc chưa thanh toán là: 20.810.126.104 đồng.
Công ty T4 không đồng ý với số tiền gốc nguyên đơn đưa ra vì bị đơn cho rằng nguyên đơn chưa trừ số tiền mà bị đơn đã tạm ứng 53.622.140 đồng. Tuy nhiên số tiền tạm ứng này không nằm trong 09 hóa đơn mà nguyên đơn đang khởi kiện. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu phản tố đối với số tiền này nên không có căn cứ để đối trừ.
Do vậy, Công ty TNHH Đ làm đơn khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần T4 phải trả số tiền mua hàng gốc chưa thanh toán là: 20.810.126.104 đồng là có căn cứ cần được chấp nhận.
[3]. Về thời gian tính lãi suất chậm thanh toán:
Tiền lãi được tính cụ thể như sau: Lãi suất quá hạn tương đương 150% mức lãi suất cơ bản của ba Ngân hàng là 9,7%. (Ngân hàng A là 7%, Ngân hàng B là 6%, Ngân hàng V là 6,4%).
Đối với Hợp đồng CT 49-KT-PJ-0321 gồm 05 hóa đơn:
- - Hóa đơn 0003511 ngày 01/10/2021 được tính lãi từ ngày 30/11/2021 đến ngày 06/05/2024 là 886 ngày x 975.757.889 đồng x 9,7% = 230.268.169 đồng.
- - Hóa đơn 0003573 ngày 22/10/2021 được tính lãi từ ngày 21/12/2021 đến ngày 06/05/2024 là 843 ngày x 1.961.000.085 đồng x 9,7% = 451.830.537 đồng.
- - Hóa đơn 0003572 ngày 22/10/2021 được tính lãi từ ngày 21/12/2021 đến ngày 06/05/2024 là 867 ngày x 1.541.454.385 đồng x 9,7% = 355.163.760 đồng.
- - Hóa đơn 0003589 ngày 26/10/2021 được tính lãi từ ngày 25/12/2021 đến ngày 06/05/2024 là 863 ngày x 3.362.013.830 đồng x 9,7% = 771.061.753 đồng.
- - Hóa đơn 0003758 ngày 29/11/2021 được tính lãi từ ngày 28/01/2022 đến ngày 06/05/2024 là 829 ngày x 9.505.562.155 đồng x 9,7% = 2.094.166.492 đồng.
Đối với Hợp đồng CT 005-HN-PJ-0621 gồm 03 hóa đơn:
- - Hóa đơn 0003818 ngày 17/12/2021 được tính lãi từ ngày 31/01/2022 đến ngày 06/05/2024 là 826 ngày x 1.620.433.200 đồng x 9,7% = 355.702.870 đồng.
- - Hóa đơn 00000023 ngày 23/12/2021 được tính lãi từ ngày 06/02/2022 đến ngày 06/05/2024 là 820 ngày x 1.493.876.560 đồng x 9,7% = 325.542.306 đồng.
- - Hóa đơn 00000024 ngày 23/12/2021 được tính lãi từ ngày 06/02/2022 đến ngày 06/05/2024 là 820 ngày x 227.634.000 đồng x 9,7% = 49.605.502 đồng.
Đối với Hợp đồng CT 025-DT-PJ-0921 gồm 01 hóa đơn:
- - Hóa đơn 0003792 ngày 09/12/2021 được tính lãi từ ngày 16/12/2021 đến ngày 06/05/2024 là 872 ngày x 122.404.000 đồng x 9,7% = 28.365.534 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn yêu cầu lãi suất chậm thanh toán được tính dựa trên mức lãi suất quá hạn của ba Ngân hàng theo điều 306 Luật Thương mại là có có căn cứ được chấp nhận.
[4]. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty cổ phần T4 phải nộp số tiền án phí là 133.471.000 đồng. Công ty TNHH Đ không phải nộp án phí. Công ty TNHH Đ được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 67.450.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004605 ngày 24/11/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ba Đình.
Các bên đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Vì các lẽ trên;
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Áp dụng Điều 306 Luật Thương mại;
- - Áp dụng Điều 357;Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Áp dụng các Điều 2, Điều 6; Điều 7; Điều 9; Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
- - Áp dụng khoản 4, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty TNHH Đ đối với Công ty cổ phần T4 về việc tranh chấp Hợp đồng mua bán.
- Buộc Công ty cổ phần T4 phải thanh toán cho Công ty TNHH Đ tổng số tiền tính đến ngày 06/5/2024 là: 25.471.833.027 đồng; Trong đó; Tiền gốc là: 20.810.126.104 đồng. Tiền lãi là: 4.661.706.923 đồng.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong bản án.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty cổ phần T4 phải nộp số tiền án phí là 133.471.000 đồng. Công ty TNHH Đ được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 67.450.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004605 ngày 24/11/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ba Đình.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận
|
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Ngọc Liên |
Bản án số 58/2024/KDTM-ST ngày 06/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 58/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
