Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TRẢNG BÀNG

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày 16-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Yến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Lý;

Ông Trần Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã

Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham

gia phiên tòa: Ông Lê Minh Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phan Văn V, sinh năm 1992, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: sống lang thang; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T và bà Dương Thị G (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có; bị tạm giữ ngày 01-4-2024, chuyển tạm giam ngày 10-4-2024 đến nay. (có mặt)
  2. Trương Thị Thu S, sinh năm 1985, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: sống lang thang; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn H (đã chết) và bà Đặng Thị C; chồng là Võ Thành Đ (đã ly hôn), con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có; bị tạm giữ ngày 01-4-2024, chuyển tạm giam ngày 10-4-2024 đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; cư trú tại: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Cao Thị M, sinh năm 1963; cư trú tại: Ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 01-4-2024, do không có tiền tiêu xài nên Phan Văn V rủ Trương Thị Thu S đi tìm tài sản của người khác lấy trộm. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, S điều khiển xe môtô biển số 70K1-097.09 chở V đến khu vực ấp T, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh thì phát hiện xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 70L1-500.02 của bà Nguyễn Thị N dựng trước tiệm tạp hóa “Tư Rông”, trên xe có cắm sẵn chìa khóa và không có người trông giữ. S dừng xe lại bên ngoài để V đi đến lấy trộm xe môtô của bà N. Khi V đẩy ra ngoài thì bị ông Huỳnh Văn R phát hiện truy hô, V để lại xe môtô biển số 70L1-500.02 và lên xe môtô của S bỏ chạy thì bị người dân bắt giữ giao Công an xử lý.

Tại Kết luận định giá tài sản số 21A/KL-HĐĐGTS ngày 05-4-2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thị xã T, kết luận: Xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 70L1-500.02, số máy E3X9E027752, số khung RLCUE3210GY010501, dung tích 110cm³ (đã qua sử dụng), trị giá 6.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 50/CT-VKSTrB ngày 31-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Phan Văn V, bị cáo Trương Thị Thu S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị N trình bày đã nhận lại tài sản là xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 70L1-500.02 và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phan Văn V, Trương Thị Thu S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn V từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Thị Thu S từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản nên không phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận.

Tại phiên tòa, bị cáo V, bị cáo S thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị M vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra bà M đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án, sự vắng mặt của bà M không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên vụ án vẫn được tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn V, bị cáo Trương Thị Thu S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng đã truy tố. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01-4-2024, tại ấp T, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản bị cáo Phan Văn V và bị cáo Trương Thị Thu S đã lấy trộm xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 70L1-500.02 của bà Nguyễn Thị N trị giá 6.000.000 đồng, mục đích bán lấy tiền tiêu xài.

Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo V, S phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[4] Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tuy có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, bị cáo V là người rủ rê, chủ động và là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà N trị giá 6.000.000 đồng, bị cáo S tham gia với vai trò là người giúp sức “chở bị cáo V đi tìm kiếm tài sản để lấy trộm”. Do đó, bị cáo V phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần nghiêm trị. Các bị cáo đủ năng lực pháp luật hình sự để nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì lười biếng lao động, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội nhằm bán lấy tiền tiêu xài. Do đó, cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo để có tính giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo V, bị cáo S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo V, bị cáo S phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo V, S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra, xác minh bị cáo V, bị cáo S không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp:

  • - Xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại TARANIS, màu sơn đỏ, biển số 70K1-097.09 do bà M quản lý, sử dụng hợp pháp, bà M không biết bị cáo sử dụng xe này để thực hiện tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã trả chiếc xe này cho bà M là phù hợp.
  • - Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 70L1-500.02 do bà N quản lý, sử dụng hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã trả chiếc xe này cho bà N là phù hợp.
  • - Trả lại cho bị cáo V: 01 (một) căn cước công dân số [...], tên Phan Văn V (bản gốc);
  • - Trả lại cho bị cáo S: 01 (một) căn cước công dân số [...], tên Trương Thị Thu S (bản gốc);
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun ngắn tay màu xám (đã qua sử dụng), 01 (một) quần tây dài bằng vải màu xám đen (đã qua sử dụng).

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại phiên tòa là có căn cứ.

[9] Về án phí: Bị cáo Phan Văn V, bị cáo Trương Thị Thu S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Phan Văn V 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 01-4-2024.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trương Thị Thu S 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 01-4-2024.

  3. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
    • Ghi nhận bị hại bà Nguyễn Thị N không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.
    • Trả lại cho bị cáo Phan Văn V: 01 (một) căn cước công dân số [...], tên Phan Văn V (bản gốc);
    • Trả lại cho bị cáo Trương Thị Thu S: 01 (một) căn cước công dân số [...], tên Trương Thị Thu S (bản gốc);
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun ngắn tay màu xám (đã qua sử dụng), 01 (một) quần tây dài bằng vải màu xám đen (đã qua sử dụng).
    • (Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24-6-2024)
  4. Án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Phan Văn V, bị cáo Trương Thị Thu S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT TANDTC (Vụ 1);
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - Phòng kiểm tra nghiệp vụ TAND tỉnh;
  • - VKSND thị xã Trảng Bàng;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Cơ quan THAHS thị xã Trảng Bàng;
  • - Nhà tạm giữ Công an thị xã Trảng Bàng;
  • - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng;
  • - Phòng lý lịch Sở tư pháp tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Võ Thị Phương Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger