TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HSST
Ngày: 16-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Kim Kinh
2. Bà Nguyễn Thị Thu Thủy
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Chi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu T – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 48/2024/HSST ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Lê Trung K, sinh ngày 13/3/1993 tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Tổ D, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Chí T1 (chết) và bà Lê Thị Thu B; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2023 đến ngày 28/4/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Bùi Thành Đ, sinh năm 1966, địa chỉ: Tổ G, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
2. Ông Võ Minh D, sinh năm 1978, địa chỉ: Tổ E, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Lê Trung K là nhân viên phát triển thị trường cho các đại lý bia, nước giải khát trên địa bàn thành phố Q. Trong quá trình làm thị trường, K nhận thấy nhu cầu tiêu thụ thuốc lá điếu nhập lậu trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cao (trong đó có thuốc lá điếu nhãn hiệu JET) nên nảy sinh ý định tìm nguồn mua thuốc lá điếu nhập lậu về bán lại kiếm lời. Trong tháng 02/2023, K sử dụng điện thoại di động hiệu IPHONE màu trắng, gắn sim số 0974.952.452, đăng nhập tài khoản Facebook tên “Trung Kiên” kết nối với đối tượng sử dụng tài khoản Facebook tên “Nguyễn H” ở tỉnh Thừa Thiên Huế là đối tượng bán thuốc lá điếu nhập lậu (không rõ nhân thân, lai lịch) nhắn tin trao đổi việc mua bán thuốc lá điếu nhập lậu (thuốc JET) với đối tượng này qua ứng dụng Messenger, hai bên thỏa thuận giá mua bán là 192.000 đồng/cây thuốc JET(10 bao), phương tiện vận chuyển và địa điểm nhận hàng do đối tượng “Nguyễn Hoài” chọn. Sáng ngày 23/02/2023, K nhắn tin cho đối tượng “Nguyễn Hoài” đặt mua 400 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu JET (tương đương 4.000 bao) với tổng số tiền 76.800.000 đồng. Chiều cùng ngày, đối tượng “Nguyễn H” nhắn tin thông báo đã gửi 400 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu JET được chứa trong 04 bao tải cho K bằng đường xe khách (không xác định được nhà xe), trên bao tải có ghi thông tin số điện thoại của K. Nhận được thông tin, K chuyển khoản trước số tiền 60.000.000 đồng từ tài khoản số [...] của K đến số tài khoản 109876439141 (chủ tài khoản tên Cao Văn K1, sinh năm: 1967, địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế) cho đối tượng “Nguyễn Hoài”, số tiền còn lại 16.800.000 đồng K nhận được hàng sẽ chuyển khoản trả sau.
Đến khoảng 09 giờ 37 phút ngày 24/02/2023, ông Võ Minh D chủ điểm giao nhận hàng “D” ở xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi điện thoại cho K nói đến điểm giao nhận hàng để nhận 04 bao hàng. Sau đó, K sử dụng số điện thoại 0974.952.xxx gọi đến số 0905.908.525 của ông Bùi Thành Đ (là người làm nghề chở hàng thuê bằng cộ tự chế) nói ông Đ đến điểm giao nhận hàng của ông D nhận 04 bao hàng rồi chở đến nhà trọ số F đường P, phường N, thành phố Q (do ông Đặng T2, sinh năm: 1954 làm chủ) cho K, tiền công là 100.000 đồng và nhờ ông Đ trả tiền bến bãi cho K 100.000 đồng, khi chở hàng đến K sẽ trả tiền công và tiền bến bãi cho ông Đ tổng cộng 200.000 đồng. Ông Đ đồng ý rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76N5-4023 kéo theo cộ tự chế đến điểm giao nhận hàng “D” nhận hàng chở đến điểm hẹn cho K. Tại đây, ông Đ điện thoại cho K đến khiêng các bao hàng vào dãy nhà trọ, khi K và ông Đ đang khiêng 04 bao hàng vào hành lang dãy trọ để đem đi tiêu thụ thì bị Công an tỉnh Q bắt quả tang, kiểm tra trong 04 bao tải bên trong mỗi bao tải đều chứa 02 thùng giấy catton, bên trong mỗi thùng giấy catton có chứa 50 cây thuốc lá (mỗi cây thuốc lá có 10 bao); nhãn hiệu JET, dạng hình trụ màu trắng và có đầu lọc. Tổng cộng trong 04 bao tải có 400 cây thuốc lá điếu, nhãn hiệu JET (4.000 bao thuốc JET).
Theo Kết luận giám định số: 337/KL-KTHS ngày 27/02/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận:
- 4.000 bao thuốc lá (nhãn hiệu JET; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu JET; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
- Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng không đủ cơ sở để kết luận các mẫu thuốc lá điếu mang nhãn hiệu trên có nguồn gốc, xuất xứ chính xác từ nước nào.
Cáo trạng số 200/CT-VKS-TPQN ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố Nguyễn Lê Trung K về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Trung K phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, áp dụng điểm e khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Trung K 1.000.000.000 đồng đến 1.100.000.000 đồng. Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng theo quy định của bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc giải quyết vụ án, do đó căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Lê Trung K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu, xét lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Vì muốn kiếm tiền lời mà bị cáo K đã liên hệ với một người có tài khoản Facebook tên “Nguyễn H” (không rõ nhân thân, lai lịch) đặt mua 400 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu JET (tương đương 4.000 bao) với tổng số tiền 76.800.000 đồng và khi đang vận chuyển hàng vào hành lang dãy trọ nơi bị cáo đang ở để đem đi tiêu thụ thì bị bắt quả tang. Tại Kết luận giám định thì 4.000 bao thuốc lá (nhãn hiệu JET; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp) là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu JET; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất). Với hành vi trên, bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”, theo điểm e khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ Công an nhân dân và được Giám đốc Công an tỉnh Q tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến năm 2013; tặng giấy khen vì đã có thành tích trong đợt 2 cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm bảo vệ các sự kiện lớn của đất nước trong năm 2015. Đồng thời, bị cáo có bà nội là mẹ Việt Nam Anh hùng; ông ngoại được Hội tặng Huân chương Giải phóng hạng Ba; cha mẹ bị cáo là cán bộ công an nghỉ hưu, cha bị cáo là thương binh hạng ¾, được Hội tặng Huân chương Giải phóng hạng Nhất, hạng Ba; được Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì; được Chủ tịch nước truy tặng Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba, Huân chương Ghiến công hạng Nhất. Mẹ bị cáo được Công an tỉnh Q tặng Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua đặc biệt kỷ niệm 55 năm ngày truyền thống lực lượng Hậu cần C2; Chiến sỹ giỏi năm 2000 nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[5] Tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với thuốc lá điếu nhập lậu Nhà nước cấm lưu thông. Do đó, cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt và gia đình bị cáo có truyền thống cách mạng. Đồng thời tại phiên tòa bị cáo trình bày bị cáo đang đi làm, thu nhập ổn định có đủ khả năng để nộp phạt tiền và bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 30.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi nên xét thấy xử phạt bị cáo với mức phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
[6] Về xử lý vật chứng:
- 3.600 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu JET được niêm phong trong 8 thùng giấy catton, bên ngoài có đóng dấu tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự Bộ C3 và chữ ký ghi rõ họ tên Phạm Phú Q, Nguyễn Phi C (bên ngoài có một số chỗ bị rách) đây là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô, biển kiểm soát: 81G1-25140, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe: EXCITER: tên trong giấy đăng ký xe là Lê Minh T3 (sinh năm: 1982; HKTT: Tổ E, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai). Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Lê Trung K, hiện chưa làm rõ được nguồn gốc chủ sở hữu. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ xe 81G1-25.140 để điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau.
- 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu trắng, bên trong có gắn 01 sim điện thoại được niêm phong trong bì thư số 352/KL-KTHS, bên ngoài có đóng dấu của Phòng K2 Công an tỉnh Q và có chữ ký của Nguyễn Thế A. Đây là điện thoại K sử dụng để liên lạc mua thuốc lá điếu nhập lậu, thuê người vận chuyển nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- 01 xe mô tô, mang biển kiểm soát 76N5-4023, nhãn hiệu Citi, màu đỏ, xe có gắn theo 01 cộ chở hàng tự chế. Chủ sở hữu là ông Bùi Thành Đ sử dụng xe này kéo theo cộ tự chế để nhận và vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cho K. Nhưng ông Đ không biết bên trong bao tải chứa thuốc lá nhập lậu. Nên trả lại cho ông Bùi Thành Đ.
- 01 điện thoại di động, màu xanh, bên ngoài có chữ VSMART bên trong có gắn 01 sim điện thoại được niêm phong trong bì thư số 351/KL-KTHS, bên ngoài có đóng dấu của Phòng K2 Công an tỉnh Q và có chữ ký của Nguyễn Phương Đ1 của ông Bùi Thành Đ. Ông Đ sử dụng để liên lạc cá nhân và nhận chở hàng thuê. Ông Đ không biết Nguyễn Lê Trung K gọi cho ông để vận chuyển hàng cấm. Nên trả lại cho ông Bùi Thành Đ.
[7] Các đối tượng liên quan đến vụ án:
[7.1] Đối với ông Bùi Thành Đ là người vận chuyển hàng cho bị cáo K: Khi thuê ông Đ chở hàng, K không nói cho ông Đ biết bên trong 04 bao hàng là thuốc lá điếu nhập lậu. Đồng thời, 04 bao hàng được bọc kín, bên trong là thùng caton nên ông Đ không kiểm tra và không biết 04 bao hàng mà ông vận chuyển là thuốc lá điếu nhập lậu. Do đó, ông Đ không đồng phạm với bị cáo K và không có dấu hiệu về hành vi vận chuyển hàng cấm nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Đ.
[7.2] Đối với ông Võ Minh D (chủ kho hàng D): Ngày 24/02/2023, ông D nhận 04 bao tải màu xanh từ 01 hãng xe khách (không nhớ tên nhà xe) tại điểm giao nhận hàng của ông, bên trên bao tải có kèm 01 tờ giấy ghi số điện thoại người nhận hàng. Sau đó, nhân viên của ông D gọi theo số điện thoại người nhận hàng thì có người đến nhận và nhân viên có thu 100.000 đồng tiền bến bãi. Khi nhận hàng, ông D không biết bên trong 04 bao tải màu xanh là hàng hóa gì vì được bọc kín, bên trong bao là thùng caton. Ngoài ra, ông D không có mối quan hệ gì với bị cáo Nguyễn Lê Trung K, không biết K buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu, giữa ông D và Nguyễn Lê Trung K không có sự thỏa thuận từ trước. Do đó, ông Võ Minh D không đồng phạm với bị cáo K về hành vi “Buôn bán hàng cấm” nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông D.
[7.3] Đối với đối tượng bán thuốc lá điếu nhập lậu có tên “Nguyễn H”: Quá trình điều tra, Nguyễn Lê Trung K khai nhận chỉ liên lạc với đối tượng này qua tin nhắn ứng dụng M và biết H ở tỉnh Thừa Thiên Huế (không rõ nhân thân, lai lịch). Do đó, Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, xử lý.
[7.4] Đối với ông Cao Văn K1: Lời khai của bị cáo Nguyễn Lê Trung K trong quá trình điều tra, tại phiên tòa cũng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đều thể hiện: Bị cáo K đặt mua 400 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu JET (tương đương 4.000 bao) với tổng số tiền 76.800.000 đồng của một đối tượng sử dụng tài khoản Facebook tên “Nguyễn H” ở tỉnh Thừa Thiên Huế và bị cáo K chuyển khoản trước số tiền 60.000.000 đồng từ tài khoản số [...] của bị cáo K đến số tài khoản 109876439141 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C4 do đối tượng “Nguyễn Hoài” cung cấp. Theo văn bản số 26/CNQNG- TN ngày 29/3/2023 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần C4- chi nhánh Q1 (bút lục 138- 143) chủ số tài khoản 109876439141 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C4 có họ và tên Cao Văn K1, số chứng minh nhân dân/ căn cước công dân [...], địa chỉ: Thôn L, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế và từ ngày 01/01/2023 đến ngày 24/02/2023 chủ tài khoản này có 196 lượt giao dịch, riêng bị cáo K có 37 lượt chuyển tiền đến tài khoản này, trong đó ngày 23/02/2023 chuyển số tiền 60.000.000 đồng. Nhưng tại biên bản ghi lời khai ngày 13/7/2023 tại Công an thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Bút lục 157-158) người có tên Cao Văn K1, sinh năm 1967, số chứng minh nhân dân/căn cước công dân [...], địa chỉ tại thôn L, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế khai: Khiết làm nông tại địa phương, không biết người nào tên Nguyễn Lê Trung K; không đăng ký hay sử dụng bất cứ tài khoản ngân hàng nào và cũng không cho ai mượn căn cước công dân hay chứng minh nhân dân để làm tài khoản ngân hàng.
Như vậy, tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C4 có tên Cao Văn K1, số chứng minh nhân dân/căn cước công dân [...], địa chỉ tại thôn L, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế do ai mở và mở với hình thức nào, hồ sơ lưu tại Ngân hàng ra sao, số điện thoại đăng ký để thực hiện giao dịch đối với số tài khoản 10987643914 là số nào, ai là chủ số điện thoại đăng ký.... chưa được điều tra làm rõ để từ đó xác định có hay không có căn cứ xử lý hình sự đối với người này. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã trả hồ sơ điều tra làm rõ chủ số tài khoản 109876439141 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C4 có họ và tên Cao Văn K1, số chứng minh nhân dân/ căn cước công dân [...], địa chỉ: Thôn L, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế có phải là đối tượng bán 4.000 bao thuốc lá nhãn hiệu JET không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam cho Nguyễn Lê Trung K hay không, để từ đó xác định có hay không có căn cứ xử lý hình sự đối với người này trong cùng vụ án này. Nhưng không được chấp nhận và Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố. Vì vậy căn cứ vào giới hạn của việc xét xử quy định tại Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vụ án theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Nhưng kiến nghị cấp phúc thẩm xem xét đối với hành vi của đối tượng liên quan.
[7] Đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt, tội danh, xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm e khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Điều 106, Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Trung K phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lê Trung K 1.100.000.000 đồng (Một tỷ một trăm triệu đồng)
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 3.600 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu JET được niêm phong trong 8 thùng giấy catton, bên ngoài có đóng dấu tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự Bộ C3 và chữ ký ghi rõ họ tên Phạm Phú Q, Nguyễn Phi C (bên ngoài có một số chỗ bị rách).
Tịch thu sung vào ngân sách: 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu trắng, bên trong có gắn 01 sim điện thoại được niêm phong trong bì thư số 352/KL-KTHS, bên ngoài có đóng dấu của Phòng K2 Công an tỉnh Q và có chữ ký của Nguyễn Thế A.
Trả lại cho ông Bùi Thành Đ: 01 xe mô tô, mang biển kiểm soát 76N5-4023, nhãn hiệu Citi, màu đỏ, xe có gắn theo 01 cộ chở hàng tự chế và 01 điện thoại di động, màu xanh, bên ngoài có chữ VSMART bên trong có gắn 01 sim điện thoại được niêm phong trong bì thư số 351/KL-KTHS, bên ngoài có đóng dấu của Phòng K2 Công an tỉnh Q và có chữ ký của Nguyễn Phương Đ1.
(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 01/11/2023 giữa Công an tỉnh Q và C1 cụ Thi hành án dân sự thành phố Q).
Tiếp tục tạm giữ số tiền 30.000.000 đồng bị cáo K đã nộp theo biên lai số 0002309 ngày 25/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Lê Trung K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Như |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đào Kim Kinh Đinh Thị Thanh T4 | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh N |
Bản án số 58/2024/HSST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về buôn bán hàng cấm (vụ án hình sự)
- Số bản án: 58/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Le Trung K- Buon ban hang cam
