Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày: 16 – 5 – 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Nguyên – Ông Huỳnh Văn Nam
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Kiên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Võ Tuấn T

    (Tý tướng cướp), sinh năm 1991, tại thành phố L, tỉnh An Giang. Không nơi cư trú nhất định. Tạm trú: 16/1, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Nơi ở hiện tại: số C, khu dân cư khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Võ Văn T1 (chết) và bà Võ Thị Tuyết M (chết).

    Nhân thân: Ngày 04/5/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 08 năm tù về tội “Giết người” đến ngày 16/11/2012 chấp hành xong hình phạt tù.

    - Tiền án: Ngày 20/01/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đến ngày 20/8/2022 chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000 đồng sung quỹ ngân sách nhà nước.

    - Tiền sự: Không.

    - Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 26 tháng 01 năm 2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. Có mặt

  2. Nguyễn Thị Tùng T2

    , sinh năm 1990, tại thành phố L, tỉnh An Giang. Nơi ở hiện tại: số C, đường số A, tổ B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Nơi thường trú: số F, khóm P, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lý Hùng C, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1970. Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2020.

    Nhân thân: Ngày 13/11/2003, bị Ủy ban nhân dân thành phố L quyết định đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 20/9/2005 chấp hành xong quyết định.

    - Tiền án, tiền sự: Không.

    - Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 21 tháng 10 năm 2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. Có mặt

  • - Bị hại: Dương Cao T3, sinh năm 1974. Địa chỉ: số F, hẻm A, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
  1. Tô Thanh H1, sinh năm 1978. Địa chỉ: số E, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt
  2. Văng Thanh T4, sinh năm 1982. Địa chỉ: số A, tổ F, ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt
  3. Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1995. Địa chỉ: tổ B, ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang. Vắng mặt
  4. Nguyễn An K, sinh năm 1970. Địa chỉ: số E, tổ C, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Có mặt
  5. Trần Văn M1, sinh năm 1963. Địa chỉ: khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 20 tháng 10 năm 2023, Võ Tuấn T điều khiển xe mô tô biển số 67F1-218.69 chở Nguyễn Thị Tùng T2 (sống chung như vợ chồng với T) từ phường M về nhà thuộc tổ B, khóm T, phường M, thành phố L, T chở T2 vào khu vực hẻm A, khóm Đ, phường M, thành phố L. Trên đường đi, T phát hiện xe mô tô nhãn hiệu SH 150i, màu sơn bạc, biển số 67P1-8668 của anh Dương Cao Thiên d trước hiên nhà, không có người trông giữ nên nảy sinh ý định lấy trộm xe bán lấy tiền tiên xài. Thực hiện ý định này, T dừng xe lại kêu T2 đứng cảnh giới, còn T dùng đoản đã chuẩn bị trước vào bẻ khoá xe nhưng không khởi động được, nên T ngồi lên xe và dùng hai chân đẩy xe lấy trộm đến chỗ T2, T đưa cho T2 chìa khóa để khỏi động xe lấy trộm, T2 lấy chìa khoá tìm cách khởi động xe nhưng vẫn không khởi động được, nên T kêu T2 ngồi lên xe vừa lấy trộm biển số 67P1-8668, còn T điều khiển xe biển số 67F1-218.69 dùng chân đẩy xe lấy trộm về nhà. Tại đây, T tháo biển số xe 67P1-8668 rồi lắp đổi biển số 67L2-020.71 vào để che giấu hành vi phạm tội. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày T, T2 gửi xe SH đã lấy trộm tại nhà của Đặng Thị Mai H3 nhưng gắn biển số 67L2-020.71. Riêng anh Dương Cao T3 sau khi bị mất trộm xe đã đến Công an phường M trình báo sự việc. Đến ngày 21 tháng 10 năm 2023 và ngày 26 tháng 01 năm 2024, T2 và T đầu thú thừa nhận hành vi phạm tội.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, màu sơn bạc, biển số 67P1-8668, đã trao trả cho ông Dương Cao T3, theo biên bản giao nhận ngày 06 tháng 12 năm 2023.
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RS, màu đỏ đen, gắn biển số 67K2-3149; 04 biển số xe 67P1-8668, 67H9-0344, 67FK-3689, 67F1-218.69; 01 gương chiếu hậu màu vàng, mặt gương hình chữ nhật; 01 gương chiếu hậu màu đen, mặt gương hình bầu dục; 01 cây vít cán bằng nhựa màu đỏ, phần thân bằng kim loại gắn đoạn lục giác bị bẻ cong có một đầu bị đập dẹp; 01 vật bằng kim loại, có tay cầm dạng ống hàn vào phần thân bằng kim loại có đầu bị đập dẹp; 01 cây khóa có ghi số 10; 01 bộ đồ bằng vải quần áo dài tay màu nâu trắng có họa tiết; 01 áo thun màu trắng có cổ; 01 quần Jean màu xanh; 01 áo khoác màu đỏ đen có in họa tiết.
  • - Kết luận định giá tài sản số 234/KL-HĐĐGTS ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, màu sơn bạc, biển số 67P1-8668 trị giá 110.000.000 đồng.
  • - Kết luận giám định số 140/KL-KTHS ngày 03 tháng 12 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh A, kết luận: Xe mô tô không mang biển số (hiệu Honda, loại Wave) có số khung, số máy không bị: cắt, hàn, đục, sửa, tẩy xoá, hoen gỉ.
  • - Kết luận giám định số 524/KL-KTHS(KTSĐT-GT), ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh A, kết luận: Trích xuất 21 ảnh từ dữ liệu 03 tập tin video lưu trữ trong đĩa CD (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L gửi giám định, chi tiết thể hiện trong Phụ lục gồm 09 trang A4.

Ông Dương Cao T3 trình bày: thống nhất nội dung vụ án đã nêu, hiện đã nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, không yêu cầu bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị can.

Tô Thanh H1 trình bày: Xe mô tô biển số 67K2-3149 H1 mua vào năm 2003 với số tiền 9.900.000 đồng và đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Ngày 04 tháng 10 năm 2023, H1 cho Nguyễn Thanh C1 mượn sử dụng thì bị mất trộm, C1 đã trình báo Công an phường B. Việc T, T2 sử dụng xe làm phương tiện phạm tội H1 không biết.

Văng Thanh T4 trình bày: Xe mô tô biển số 67L1-020.71 Tùng mua năm 2018 với số tiền 20.000.000 đồng và đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, đến ngày 06 tháng 10 năm 2023 thì bị mất trộm, T4 đã trình báo Công an phường M, thành phố L. Việc T, T2 sử dụng xe làm phương tiện phạm tội T4 không biết.

Nguyễn Thị Thu H2 trình bày: Xe mô tô biển số 67F1-218.69 Hồng mua năm 2010 với số tiền 20.000.000 đồng và đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, đến năm 2016 H2 bán lại cho người khác, chưa làm thủ tục sang tên. Việc T, T2 sử dụng xe làm phương tiện phạm tội H2 không biết.

Nguyễn An K trình bày: Xe mô tô biển số 67H9-0344 Khương mua năm 2012 với số tiền 12.000.000 đồng và đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, đến năm 2013 K bán lại cho người khác, chưa làm thủ tục sang tên. Việc T, T2 sử dụng xe làm phương tiện phạm tội K không biết.

Trần Văn M1 (chồng của bà Trần Thị G) trình bày: Gìn đã chết, G không mua và đứng tên chủ sở hữu xe mô tô biển số 67FK-3689. Việc T, T2 sử dụng xe làm phương tiện phạm tội M1 không biết.

Đặng Thị Mai H3 trình bày: H3 không biết xe mô tô nhãn hiệu SH 150i, gắn biển số 67L2-020.71 là tài sản do T, T2 phạm tội mà có.

Tại bản Cáo trạng số 65/CT-VKS-HS ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Võ Tuấn T, Nguyễn Thị Tùng T2 về “Tội trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị cáo T và bị cáo T2 thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm quay về với gia đình, xã hội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông K: không biết việc T, T2 sử dụng phương tiện phạm tội và không liên quan gì nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 2 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Võ Tuấn T là 03 – 04 năm tù; áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Tùng T2 là 02 năm 06 tháng – 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RS, màu đỏ đen, gắn biển số 67FK-3689;
  • - Tịch thu tiêu hủy 02 biển số xe 67H9-0344, 67F1-218.69; 01 gương chiếu hậu màu vàng, mặt gương hình chữ nhật; 01 gương chiếu hậu màu đen, mặt gương hình bầu dục; 01 cây vít cán bằng nhựa màu đỏ, phần thân bằng kim loại gắn đoạn lục giác bị bẻ cong có một đầu bị đập dẹp; 01 vật bằng kim loại, có tay cầm dạng ống hàn vào phần thân bằng kim loại có đầu bị đập dẹp; 01 cây khóa có ghi số 10; 01 bộ đồ bằng vải quần áo dài tay màu nâu trắng có họa tiết; 01 áo thun màu trắng có cổ; 01 quần Jean màu xanh; 01 áo khoác màu đỏ đen có in họa tiết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:
    1. [1.1] Về Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.
    2. [1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Đối với bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, những người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và lời khai của những người này phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
  2. [2] Về trách nhiệm hình sự:
    1. [2.1] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo Võ Tuấn T, Nguyễn Thị Tùng T2 thừa nhận ngày 20/10/2023, khi đang điều khiển xe honda Wave RS đi vào hẻm A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu SH 150i, biển số 67P1-8668 của Dương Cao Thiên dựng trước hiên nhà, không ai trông coi nên cả hai đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc mô tô nêu trên như nội dung vụ án thể hiện. Theo kết luận định giá số 234/KL-HĐĐGTS ngày 01/11/2023 xác định xe mô tô nêu trên có giá 110.000.000 đồng.
    2. [2.2] Xét thấy, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ vụ án. Như vậy, căn cứ vào các chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi trên đây của bị cáo Võ Tuấn T, Nguyễn Thị Tùng T2 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù.
  3. [3] Xét về nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì nhận thấy:
    1. [3.1] Bị cáo T và bị cáo T2 đều đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng do lười lao động, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động vất vả nên hai bị cáo đã cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, gây hoang mang dư luận.
    2. Theo đó, bị cáo T là người chủ động và tích cực với một loạt hành động như dùng đoản bẻ khóa xe, dắt xe, đẩy xe, thay biển số xe...nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại, trong lần phạm tội này bị cáo T đóng vai trò chủ yếu và có mức độ nguy hiểm hơn so với bị cáo T2. Về nhân thân, bị cáo T đã nhiều lần phạm tội, có nhân thân xấu với 02 lần bị kết án về tội “Giết người” năm 2006 và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” năm 2017 đáng lẽ sau những lần chấp hành xong hình phạt bị cáo phải ăn năn hối cải, chăm lo lao động nuôi sống bản thân, sống có ích cho xã hội nhưng với bản chất lười lao động, ham chơi, bị cáo không tìm kiếm việc làm lại sử dụng trái phép chất ma túy, đánh bạc (game bắn cá ăn tiền) và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để có tiền tiêu xài, thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Cho thấy bị cáo có thái độ xem thường pháp luật cần có hình phạt nghiêm khắc để giáo dục, răn đe bị cáo.
    3. Bị cáo T2 là đồng phạm với bị cáo T tuy nhiên vai trò và mức độ ít nguy hiểm hơn bị cáo T, bị cáo T2 cũng từng bị đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng vẫn chưa sửa đổi được bản tính tham lam, lười làm. Khi bị cáo T trộm cắp tài sản, bị cáo T2 không khuyên can, ngăn cản mà còn cùng bị cáo T tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt nghiêm khắc, phù hợp với hành vi phạm tội của hai bị cáo và thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát là cần cách ly hai bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
    4. [3.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Riêng bị cáo T, ngày 20/01/2017 bị cáo bị xử phạt 08 năm tù, bị cáo đã chấp hành hình phạt xong hình phạt tù vào ngày 20/8/2022 nhưng chưa nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000 đồng sung quỹ ngân sách nhà nước, đến ngày 20/10/2023 bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý khi chưa được xóa án tích do đó áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
    5. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
    6. [3.3] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T và bị cáo T2 không có tài sản, không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo.
  4. [4] Về xử lý vật chứng:
    • cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng 01 xe honda SH 150i, màu sơn bạc, biển số 67P1-8668 cho Dương Cao T5, việc xử lý vật chứng này đúng quy định pháp luật.
    • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 để xử lý các vật chứng còn lại:
      • - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave RS, màu đỏ đen, gắn biển số 67FK-3689, số máy: VTTYX1P39FMB-6003389; số khung: RRKWCB1UM7XS 03389. Đây là phương tiện hai bị cáo dùng khi thực hiện hành vi phạm tội do đó tịch thu sung quỹ ngân sách nhà nước.
      • - Tịch thu tiêu hủy đối với các vật dụng không còn giá trị sử dụng: 02 biển số xe 67H9-0344, 67F1-218.69; 01 gương chiếu hậu màu vàng, mặt gương hình chữ nhật; 01 gương chiếu hậu màu đen, mặt gương hình bầu dục; 01 cây vít cán bằng nhựa màu đỏ, phần thân bằng kim loại gắn đoạn lục giác bị bẻ cong có một đầu bị đập dẹp; 01 vật bằng kim loại, có tay cầm dạng ống hàn vào phần thân bằng kim loại có đầu bị đập dẹp; 01 cây khóa có ghi số 10; 01 bộ đồ bằng vải quần áo dài tay màu nâu trắng có họa tiết; 01 áo thun màu trắng có cổ; 01 quần Jean màu xanh; 01 áo khoác màu đỏ đen có in họa tiết.
  5. [5] Về trách nhiệm dân sự:
    • Bị hại đã nhận được tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  6. [6] Về các vấn đề khác:
    • Bị cáo T và bị cao T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Tuấn T (Tý tướng cướp) và bị cáo Nguyễn Thị Tùng T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Võ Tuấn T (Tý tướng cướp) 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày 26/01/2024.
  2. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tùng T2 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày 21/10/2023.
  3. Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 để xử lý vật chứng.
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave RS, màu đỏ đen, gắn biển số 67FK-3689, số máy: VTTYX1P39FMB-6003389; số khung: RRKWCB1UM7XS 03389;
    • - Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) biển số xe mô tô 67H9-0344, 67F1-218.69; gương chiếu hậu màu vàng, mặt gương hình chữ nhật; gương chiếu hậu màu đen, mặt gương hình bầu dục; cây vít cán bằng nhựa màu đỏ, phần thân bằng kim loại gắn đoạn lục giác bị bẻ cong có một đầu bị đập dẹp; vật bằng kim loại, có tay cầm dạng ống hàn vào phần thân bằng kim loại có đầu bị đập dẹp; 01 cây khóa có ghi số 10; 01 bộ đồ bằng vải quần áo dài tay màu nâu trắng có họa tiết; 01 áo thun màu trắng có cổ; 01 quần Jean màu xanh; 01 áo khoác màu đỏ đen có in họa tiết.
  4. Tất cả những vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
  5. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Võ Tuấn T (Tý tướng cướp) và bị cáo Nguyễn Thị Tùng T2, mỗi người phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo T, bị cáo T2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND Tp.Long Xuyên;
  • - Thi hành án DS Tp.Long Xuyên;
  • - Nhà Tạm giữ Công an Tp. Long Xuyên;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Bộ phận THAHS Tòa án;
  • - Người bị hại, liên quan (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger