Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-PT

Ngày 16-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Dũng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Ông Trần Minh Bắc

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 60/2024/HSPT ngày 17-4-2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 06-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1987 tại Nam Định; HKTT: tổ dân phố số I, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định; chổ ở: ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C; Con bà Phạm Thị T1; sống chung như vợ chồng với bà Trương Thị Ngọc D và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2022. Tiền sự: Không;

Tiền án: Bản án số 85/2016/HSST ngày 08-11-2016 của Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa xử phạt Nguyễn Văn T 06 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Chấp hành án phạt tù xong ngày 21-7-2020.

Bị cáo bị bắt từ ngày 22/6/2023 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 19-6-2023, Nguyễn Văn T dùng số điện thoại 0898.770.xxx gọi đến số 0898345652 của Nguyễn Hoàng A nói “có Đất Đỏ không, chạy xuống nhà C đi, tí T xuống ra mở cửa giúp T”, Hoàng A đồng ý. Sau đó, Hoàng A điều khiển xe Vario biển số 72D1-394.66 chạy xuống nhà của Phạm Huy C1 ở khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ. Hoàng A mở cổng vào nhà C1, lúc này trong nhà C1 có C1 và Hoàng Xuân C2. Hoàng A nói cho C1 biết tí nữa T ghé, rồi Hoàng A ngồi tại bàn ghế đá phía trước nhà C1 đợi cửa, khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, một người tên B (chưa rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển xe Sirius (chưa rõ biển số), phía sau chở T (mặc áo thun tối màu, quần ngắn) chạy đến, Hoàng A ra mở cổng cho T và B vào. Lúc này, C2 đi ra phía sau nhà, tại nhà trước T đưa cho Hoàng A 01 gói ma tuý (bên ngoài là 01 gói nylon trong suốt, phía trên đầu gói nylon được kéo kín miệng, bên trong chứa nhiều chất kết tinh không màu, trong suốt, là loại ma tuý đá), Hoàng A hỏi “bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đâu”, C1 trả lời “ở trên tấm đan phía sau”. Hoàng A đi đến lấy bộ dụng cụ lên để trên cái bàn ở chính giữa nhà, xung quanh cái bàn Hoàng A ngồi ở ghế cây, C1 ngồi trên võng sát tường, T và B ngồi trên ghế bố. Hoàng A bỏ một ít ma tuý vào bộ D2 cụ, rồi dùng hộp quẹt màu cam tím nấu ma tuý lên để Hoàng A, C1, T và B cùng nhau sử dụng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì Hoàng A ra mở cửa cho B và T đi về. Lúc này, C2 mới lên nhà cùng sử dụng ma tuý chung với C1 và Hoàng A. Cả ba cùng sử dụng đến khoảng 22 giờ thì nghỉ, ma tuý vẫn còn một ít nên Hoàng A dùng tay kéo kín gói ma tuý lại cất trên tấm đan trước cửa buồng bên phải nhà C1 rồi đi về, C1 cùng biết việc Hoàng A cất ma tuý trên tấm đan.

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 20-6-2023, Nguyễn Hoàng  gọi điện thoại cho Nguyễn Hoàng A nhờ Hoàng A chở đi mượn tiền, Hoàng A đồng ý nên điều khiển xe Vario biển số 72D1-394.66 đến chở Â. Trên đường đi, Hoàng A rủ  đến nhà Phạm Huy C1 để sử dụng ma tuý,  đồng ý. Khi cả hai đến nhà C1, trong nhà lúc này có C1 và C2. Hoàng A hỏi C1 “bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đâu”, C1 trả lời “để ở dưới bếp”. Hoàng A đi xuống bếp, kế bình gas lấy 01 bộ dụng cụ, rồi tiếp tục đi đến tấm đan gần cửa phòng nhà C1 lấy xuống 01 gói ma tuý được Hoàng A cất giấu, đây là ma tuý của T đem đến chưa sử dụng hết của ngày 19-6-2023. Sau đó, Hoàng A đổ hết ma tuý vào nỏ thuỷ tinh, dùng hộp quẹt bật lửa nấu ma tuý để Hoàng A, Â, C1 và C2 cùng nhau sử dụng, trong đó Hoàng A hút được 02 hơi, C1 hút 01 hơi, C2 hút 01 hơi,  hút 02 hơi. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Công an huyện Đ phối hợp với Công an thị trấn Đ tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang thu giữ các vật chứng gồm: 01 hộp quẹt màu cam tím cao 7,5cm, trên thân có ghi chữ “Hoa Việt”; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 chai nhựa đựng nước cao 11,4cm, trên thân chai có chữ NƯỚC UỐNG ĐÓNG CHAI “billwa” SUỐI NGUỒN HẠNH PHÚC, trên nắp chai có hai lỗ, một lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu cam dài 31cm, một lỗ gắn 01 nỏ thuỷ tinh màu trắng, hình chữ U, một cạnh dài 4cm có đường kính khoảng 0,6cm; cạnh còn lại dài 5cm tạo thành hình cầu, miệng hình cầu có đường kính khoảng 1,5cm, bên trong nỏ có bám dính tạp chất màu nâu (C1, Hoàng A, C2 và  khai đó là ma túy còn lại chưa sử dụng hết).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Nguyễn Hoàng A và Phạm Huy C1 đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Riêng Nguyễn Văn T không thừa nhận hành vi đưa ma tuý cho Nguyễn Hoàng A vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 19-6-2023 tại nhà của Phạm Huy C1 và T không cùng Hoàng A, C1 sử dụng ma tuý tại nhà của C1.

Kết quả xét nghiệm mẫu vật nước tiểu cho thấy C1, Hoàng A, C2, Â và T đều dương tính với chất ma tuý loại Methamphetamine.

* Tại Bản kết luận giám định số 316/KL-KTHS-MT ngày 30-6-2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu chất màu nâu bám dính trong 01 nỏ thuỷ tinh (kí hiệu mẫu A), được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an thị trấn Đ, Công an huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cùng các chữ ký ghi họ tên: Thiếu tá Chu Đức T2, Cao Tứ P, Phạm Văn T3, Nguyễn Hoàng Â, Hoàng Xuân C2, Phạm Huy C1, Nguyễn Hoàng A, Phạm Văn H, gửi đến giám định không đủ cơ sở để kết luận giám định do khối lượng mẫu vật rất ít”. Tại thông báo kết quả giám định ma tuý xác nhận Mẫu A có kết quả kit test dương tính với ma tuý và có phổ tử ngoại khả kiến tương ứng với phổ của chất ma tuý, loại Methamphetamine.

Đối với Hoàng Xuân C2 và Nguyễn Hoàng  có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 19-6-2023 và ngày 20-6-2023. Ngày 15-8-2023, Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C2 và  mỗi người số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 06-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố: Nguyễn Văn T, Nguyễn Hoàng A và Phạm Huy C1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22-6-2023.

Ngoài ra bản án còn tuyên hình phạt các bị cáo khác, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 13/3/2024, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Bị cáo không thừa nhận hành vi cung cấp ma túy cho Hoàng A, C1 sử dụng như nội dung án sơ thẩm và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu quan điểm về vụ án: Bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, tuy nhiên căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định bị cáo T là người cung cấp ma túy cho C1, Hoàng A để cùng nhau sử dụng trái phép. Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ và đúng pháp luật, mức án đã tuyên phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp được chứng cứ nào mới để xem xét kháng cáo của bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T gửi trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày: Tối ngày 19/6/2023 bị cáo không đến nhà của C1, không cung cấp ma túy cho Hoàng A mà bị cáo đi ăn tối cùng với vợ là D và 3 người bạn. Bị cáo không thực hiện hành vi phạm tội nên bị oan.

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Quá trình điều tra, tại lời khai ngày 22-6-2023 bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời khai của các bị cáo Hoàng A và C1. Xét Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo A, C1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Xuân C2, phù hợp với các tài liện chứng cứ khác là Biên bản kiểm tra điện thoại thu giữ, Bản ảnh hiện trường, Biên bản nhận dạng. Do vậy có cơ sở xác định bị cáo T là người mang ma túy đến nhà C1 để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, giữa bị cáo T với các bị cáo khác và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có mâu thuẫn với nhau.

Lời khai bị cáo cho rằng mình không phạm tội do thời điểm đó đang đi cùng người làm chứng đồng thời là người sống như vợ chồng với bị cáo là bà Trương Thị Ngọc D và bạn của bị cáo tên N, B1 và D1. Tuy nhiên, qua tiến hành lấy lời khai, đối chất thì bà D xác định đêm 19-6-2023 bà D không đi ăn tối chung với T còn T đi đâu không rõ, qua đêm 20-6-2023 T có đi ăn tối cùng với bà D và người bạn của T tên B ngoài ra không còn ai khác. Cơ quan chức năng tiến hành xác minh những người bạn của T có tên N, B1 và D1 theo như lời khai của T. Quá trình xác minh thể hiện những người này không tên, địa chỉ tại địa phương theo như trình bày của T. Do vậy, lời khai này của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.

Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 19-6-2023, Nguyễn Văn T gọi điện thoại gọi Nguyễn Hoàng A đến nhà Phạm Huy C1 để chờ T xuống rồi ra mở cửa giúp T và được Nguyễn Hoàng A đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, một người tên B (bạn của T, chưa rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển xe mô tô chở T chạy đến nhà C1 và được Hoàng A ra mở cổng cho T và B vào. Khi vào, T đưa cho Hoàng A 01 gói ma tuý nên Hoàng A hỏi C1 chổ để bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và C1 chỉ ở trên tấm đan cửa. Hoàng A đến lấy bộ dụng cụ bỏ một ít ma tuý vào rồi dùng hộp quẹt đốt ma tuý lên để Hoàng A, C1, T và B cùng nhau sử dụng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày Hoàng A mở cửa cho B và T ra về. Lúc này có Hoàng Xuân C2 từ sau nhà của C1 đi lên cùng sử dụng ma tuý chung với C1 và Hoàng A. Cả ba cùng sử dụng đến khoảng 22 giờ thì nghỉ, ma tuý vẫn còn một ít trong gói nylon nên Hoàng A gói kín lại đem cất trên tấm đan trước cửa buồng nhà C1 rồi đi về.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 20-6-2023, Hoàng A rủ Â đến nhà C1 để sử dụng ma tuý và Â đồng ý. Khi cả hai đến nhà C1, trong nhà lúc này có C1 và C2. Hoàng A lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý do C1 chỉ rồi đi đến tấm đan cửa lấy gói ma tuý do mình cất giấu vào ngày 19-6-2023 ra đổ hết ma tuý vào nỏ thuỷ tinh, dùng hộp quẹt bật lửa nấu ma tuý để cho Hoàng A, Â, C1 và C2 cùng nhau sử dụng thì bị kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Nguyễn Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về kháng cáo kêu oan của bị cáo:

Như đã phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định bị cáo T là người cung cấp ma túy và cùng B, Hoàng A, C1 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của C1. Kháng cáo kêu oan của bị cáo không có căn cứ để chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền về các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có tiền án về tội phạm ma túy nên cần xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Mức hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Văn T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 06-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Nguyễn Văn T 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22-6-2023.

2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 06-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - PV 27 - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Trại tạm giam – Công an tỉnh BR-VT;
  • - Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ;
  • - VKSND huyện Đất Đỏ;
  • - Công an huyện Đất Đỏ;
  • - Chi cục THADS huyện Đất Đỏ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Tòa Hình sự, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trung Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 58/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T 255
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger