|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2024/HS-ST Ngày 16-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai
Bà Hà Thị Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST- HS ngày 28 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi ngày xét xử số 257/TB-TA ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Phạm Hồng T, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1987, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số C L, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Cao P (đã chết) và bà Phạm Thị Kim P1; bị cáo có chồng Hoàng Ngọc T1 và 02 con; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 09/7/2023, tạm giam ngày 17/7/2023; có mặt.
2. Lê Thị Thanh N, sinh ngày 27 tháng 8 năm 1984, tại Hải Phòng. ĐKHKTT: SỐ A V, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số A L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Danh X và bà Hoàng Minh T2 (đã chết); bị cáo có chồng Nguyễn Quyết T3 và 03 con; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 09/7/2023, tạm giam ngày 18/7/2023; có mặt.
3. Võ Hoài A, sinh ngày 09 tháng 3 năm 1974, tại Hải Phòng. ĐKHKTT: SỐ 10/152 Chùa H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số A N, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Nguyên H (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1; bị cáo có vợ Phạm Khánh H1 (đã ly hôn) và 01 con; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 09/7/2023, tạm giam ngày 17/7/2023; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 23 giờ ngày 08/7/2023, Công an phường K tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà số B L, phường K, quận L, Hải Phòng, tại thời điểm kiểm tra ở tầng 3 của ngôi nhà, có: Phạm Hồng T (chủ nhà); Lê Thị Thanh N; Võ Hoài A; Đặng Thành T4, sinh năm 1979, nơi cư trú: số B D C, phường T, quận H, Hải Phòng và Phạm Trọng C, sinh năm 1979, nơi cư trú: số B N, phường A, quận L, Hải Phòng. Quá trình kiểm tra, T giao nộp 02 túi nilon màu trắng, kích thước: 2,5 x 2,5 cm có viền đóng mở màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (mẫu quả tang 1) được để trong 01 hộp giấy màu xanh trên sàn nhà tầng 3; 01 túi nilon màu trắng kích thước 12,5 x 8,5 cm bên trong chứa 01 mảnh viên nén màu xanh thu giữ trên giỏ hoa quả trên sàn nhà, nghi là ma túy (mẫu quả tang 2); A giao nộp 01 túi nilon màu trắng, kích thước 04 x 07 cm có viền đóng mở màu đỏ bên trong có 05 viên nén màu xanh cất trong túi quần phía trước bên phải đang mặc, nghi là ma túy (mẫu quả tang 3). Lực lượng Công an phường đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa toàn bộ người có mặt và tang vật thu giữ về trụ sở Công an phường giải quyết..
Ngày 09/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 42 đối với nhà số B L, phường K, quận L, Hải Phòng. Quá trình khám xét đã thu giữ:
Trên nóc tủ quần áo tại phòng ngủ tầng 2 từ phía cầu thang vào 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa có chất bám dính và 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng có chất bám dính (mẫu KX1); thu trong giỏ đựng hoa quả trên nền nhà tại phòng ngủ tầng 3 bên trái cầu thang 01 túi nilon mép viền màu đỏ có chất bám dính, 01 thẻ nhựa màu đen có chất bám dính (mẫu KX2), 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu đỏ và 02 bật lửa; thu trên mặt bàn tại phòng thờ tầng 3 một đĩa sứ màu trắng, trên mặt có tinh thể màu trắng, 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 thẻ nhựa màu xanh. Đĩa sứ màu trắng và thẻ nhựa màu xanh được niêm phong trong 01 túi nilon dán kín (mẫu KX3), ống hút cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì giấy dán kín (mẫu KX3A), tinh thể màu trắng trên đĩa được cho vào trong
01 túi nilon màu trắng niêm phong trong 01 bì giấy dán kín (mẫu KX4) (bút lục: 80-81).
Quá trình khám xét, Phạm Hồng T tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng gắn thẻ sim số 0904392552, Võ Hoài A tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh gắn thẻ sim số 0904486683; Lê Thị Thanh N giao nộp 01 điện thoại Iphone màu tím gắn thẻ sim số 0899343856.
Tại Bản kết luận giám định số 599 ngày 13/7/2023 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận:
Mẫu 1 (quả tang) thu giữ là ma túy, có khối lượng 1,56 gam, loại Ketamine;
Mẫu 2 (quả tang) thu giữ là ma túy, có khối lượng 0,27 gam, loại MDMA;
Mẫu 3 (quả tang) thu giữ là ma túy, có khối lượng 1,81 gam, loại MDMA.
Tại Bản kết luận giám định số 600 ngày 13/7/2023 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận:
Mẫu KX1: chất bột màu trắng bám dính tại đĩa sứ và ống cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng là ma túy, loại Ketamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng ma túy bám dính;
Mẫu KX2: chất bột màu trắng bám dính tại 01 vỏ túi nilon và thẻ nhựa màu đen gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính;
Mẫu KX3: chất bột màu trắng bám dính tại đĩa sứ và thẻ nhựa màu xanh gửi giám định là ma túy, loại Ketamie, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính;
Mẫu KX3A: chất bột màu trắng bám dính tịa 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng gửi giám định là ma túy, loại Ketamie, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính;
Mẫu KX4: Chất bột màu trắng giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,39 gam.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu: Phạm Hồng T, Lê Thị Thanh N, Võ Hoài A, Đặng Thành T4 đều dương tính với MDMA và K; Phạm Trọng Cường dương t với MDMA.
Tại Cơ quan điều tra, các bị can Phạm Hồng Trang, Lê Thị Thanh N, Võ Hoài A, khai: tối ngày 08/7/2023, Phạm Hồng T cùng Võ Hoài A, Lê Thị Thanh N, Phạm Trọng C và Đặng Thành T4 đi ăn uống tại 01 quán ăn trên đường T, phường K, quận L, Hải Phòng. Tại đây, T có nhu cầu sử dụng ma túy và có ý định rủ mọi người về nhà T tại số B L, phường K, quận L, Hải Phòng cùng sử dụng. T liên hệ với Hoàng Văn V, sinh năm 1991, nơi cư trú: số D P, phường Đ, quận H, Hải Phòng nhờ V mua hộ 03 gam Ketamine và 07 viên thuốc lắc, V có bảo T đợi một
lúc rồi nhắn tin hỏi địa chỉ thì giao cho T số ma túy ở phường K, quận L, Hải Phòng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, V gọi điện cho T thông báo không mua được ma túy, T có rủ V đến ngồi uống bia cùng nhưng V thấy bạn của T toàn người V không quen biết nên V quay về. Sau đó, T lên mạng xã hội Facebook vào nhóm “Hội đồng phê” để đăng bài kèm số điện thoại, một lúc sau T thấy có người nam giới gọi điện hỏi T mua loại ma túy gì, T nói lại mua 03 gam Ketamine và 07 viên thuốc lắc thì được người này báo giá 150.000 đồng/01 viên thuốc lắc và 900.000 đồng/01 gam Ketamine, nhưng người này nói với T chỉ còn 02 gam Ketamine. T đồng ý và hẹn giao dịch tại gần quán bia số A T, khoảng 15 phút sau, người nam giới gọi điện bảo T ra khu vực góc cây gần quán số A Trai L có hộp màu xanh bên trong có chứa ma túy T cần mua. T đến điểm chỉ dẫn lấy số ma túy và để lại số tiền 2.850.000 đồng rồi quay lại quán uống bia. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T rủ mọi người về nhà T nghe nhạc và sử dụng ma túy. Mọi người đồng ý đi về nhà T, còn T4 đi về nhà tắm hẹn sẽ đến sau. Khi về nhà, T để mọi người ngồi dưới tầng 1 nói chuyện còn T lên tầng 3 bật nhạc. Sau khi chuẩn bị phòng hát xong, T gọi mọi người lên tầng 3 để hát, T có nói với N, T có mấy viên thuốc lắc để mọi người sử dụng rồi T đi xuống tầng 2 của căn nhà để làm việc cá nhân. Một lúc sau, T thấy A xuống tầng 2 hỏi T ma túy, T đưa cho A túi nilon có 07 viên thuốc lắc và bảo An “Anh cầm lên đi”, ý bảo An cầm thuốc lắc lên cho mọi người sử dụng còn T vẫn làm việc cá nhân ở tầng 2. A nhận túi thuốc lắc và đi lên tầng 3, tại đây A lấy 01 viên thuốc lắc trong túi nilon sử dụng 01 nửa, nửa còn lại A để vào túi nilon cùng 06 viên khác. Khi A sử dụng xong, N hỏi A “T đưa cho anh chưa” thì A trả lời “Anh cầm lên đây rồi” đồng thời đưa túi nilon chứa thuốc lắc cho N xem. N nói lại anh cứ để xuống sàn nhà đây ai dùng thì dùng, sau đó N hỏi A “Anh chơi chưa”, A trả lời “Anh dùng rồi”, N quay lại chỗ C và hỏi “Anh chơi không”, C trả lời “Tôi chơi chơi ít thôi”, N cầm túi nilon chứa các viên thuốc lắc lên thì thấy có 01 nửa viên, N cắn một ít, mảnh viên thuốc lắc còn lại N đưa cho C sử dụng hết. Túi nilon chứa các viên thuốc lắc còn lại N cất dưới đất, sau đó A, N, C ngồi nghe nhạc được khoảng 30 phút thì T4 có đến gọi điện cho C bảo xuống mở cửa. T4 lên tầng 3 của ngôi nhà ngồi nói chuyện được ít phút thì A chỉ tay về phía giỏ hoa quả và nói “Có 01 viên kẹo, em dùng thì dùng đi”. N cũng nói với T4 “Mọi người sử dụng hết rồi, anh dùng đi”. T4 hiểu ý của N và A bảo T4 sử dụng thuốc lắc nên T4 ra chỗ giỏ hoa quả thấy 01 viên thuốc lắc sử dụng 01 phần, phần còn lại T4 để vào túi nilon khác có sẵn trong phòng rồi để dưới đất cạnh giỏ hoa quả. Lúc sau, A quay sang N hỏi “Em chơi chưa”, N trả lời đã dùng nửa viên, A lại tiếp tục hỏi T4 đã sử dụng chưa thì T4 nói đã dùng rồi. Hỏi xong, A cầm túi nilon chứa 05 viên thuốc lắc ở trên sàn nhà cho vào túi quần cất đi. Một lúc sau, khi A, N, C, T4 đang nghe nhạc thì T đi lên, T lấy một ít Ketamine trong túi nilon để trong hộp giấy đổ ra đĩa sứ có sẵn trong phòng, số còn lại T vẫn để trong hộp giấy. T lấy thẻ màu xanh có sẵn trên đĩa đánh mịn số Ketamine mời A, N, T4 sử dụng, C không sử dụng. Khi Công an phường K gọi cửa kiểm tra, T bỏ đĩa Ketamine vừa đánh; 01 thẻ nhựa màu xanh và 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền 10.000
đồng lên trên ban thờ tại tầng 3 rồi ra mở cửa, sau đó bị lực lượng Công an phường kiểm tra, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, Phạm Thị Hồng T5 khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên. Ngoài ra, T5 khai: T5 và Hoàng Văn V (em họ T5) có nói chuyện với nhau nên T5 biết V có sử dụng ma túy, V từng bảo T5 biết chỗ bán ma túy nên T5 có nhắn tin nhờ V mua hộ, nhưng các lần T5 nhờ V đều không mua được ma túy. Đối với người nam giới bán ma túy cho T5, T5 không biết lai lịch, địa chỉ, vì người này chỉ liên lạc với T5 qua số điện thoại, do thời gian đã lâu T5 không nhớ cụ thể số điện thoại của nam giới này.
Quá trình điều tra Lê Thị Thanh N khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên. Ngoài ra, N khai: tại quán bia, khi T5 rủ N về nhà T5 sử dụng ma túy, T5 có nói với N là T5 sẽ mua 03 gam Ketamine và 07 viên thuốc lắc. Tại phòng hát tầng 3, N giục A xuống tầng 2 lấy ma túy từ T5 mang lên cho mọi người sử dụng. Khi T5 đánh Ketamine mời mọi người, ngoài N sử dụng Ketamine do T5 mời, còn có T4, A cùng sử dụng, C không sử dụng.
Quá trình điều tra, Vũ Hoài A1 khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên. Ngoài ra, A1 khai: A1 có quan hệ bạn bè lâu năm với N, C, T4. A1 quen biết T5 qua N và đã từng sử dụng ma túy cùng T5, N nhiều lần nhưng không nhớ cụ thể thời gian và địa điểm sử dụng. Vào ngày 08/7/2023, khi sử dụng ma túy ở nhà T5 không ai phải đóng góp tiền bạc hay vật chất gì. Mục đích A1 cất 05 viên thuốc lắc trong túi quần để bỏ ra sử dụng tiếp nếu cả nhóm có nhu cầu.
Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 599MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong số 600MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong số 600MT-A/PC09 đựng 01 đĩa sứ, 01 vỏ túi nilon, 01 thẻ nhựa màu đen, 01 đĩa sứ và 01 thẻ nhựa màu xanh; 01 phong bì niêm phong số 600MT-B/PC09 đựng 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 phong bì niêm phong số 956 đựng 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone có số imel: 359173733511192 kèm 01 sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu tím đã cũ, không lên nguồn gắn thẻ sim số 8401220624130159; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh đã cũ, không lên nguồn gắn thẻ sim số 8401200224454923; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu đỏ, 02 bật lửa, 01 hộp giấy hình trụ màu xanh.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Thành T6 và Đặng Trọng C1, Công an quận L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với Hoàng Văn V, tài liệu điều tra thể hiện V có ý định mua ma túy giúp Phạm Hồng T5 nhưng không mua được nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với V.
Đối với người nam giới bán ma túy cho Phạm Hồng T5, T5 khai không biết nhân thân lai lịch nên chưa có căn cứ để điều tra làm rõ.
Tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKSLC ngày 26/02/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Phạm Hồng T5, Lê Thị
Thanh N và Võ Hoài A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Phạm Hồng T5 với mức án từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Lê Thị Thanh N với mức án từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Võ Hoài A với mức án từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 599MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong số 600MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; 01bì nilon niêm phong số 600MT-A/PC09 đựng 01 đĩa sứ, 01 vỏ túi nilon, 01 thẻ nhựa màu đen, 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa màu xanh, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu đỏ, 02 bật lửa và 01 hộp giấy hình trụ màu xanh. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 phong bì niem phong số 956 đựng 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone có số imel: 359173733511192 kèm 01 sim và 01 phong bì niêm phong số 600MT-B/PC0902 đưng 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng . Trả lại cho bị cáo N 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu tím đã cũ, không lên nguồn gắn thẻ sim số 8401220624130159 và trả lại cho bị cáo A 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh đã cũ, không lên nguồn gắn thẻ sim số 8401200224454923. Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tội danh:
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phạm Hồng T5 đã có hành vi chuẩn bị ma túy, địa điểm để cho Vũ Hoài A1, Lê Thị Thanh N, Phạm Trọng C, Đặng Thành T4 sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo Vũ Hoài A1 có hành vi giúp sức, trực tiếp nhận ma túy của bị cáo T5 mang từ tầng 2 lên tầng 3 cho bản thân bị cáo, N, C, T4 sử dụng. Bị cáo Lê Thị Thanh N biết bị cáo A1 nhận ma túy từ bị cáo T5 đã có hành vi trực tiếp đưa ma túy cho C sử dụng và mời T4 sử dụng ma túy. Kiểm tra mẫu nước tiểu của Lê Thị Thanh N, Võ Hoài A, Đặng Thành T4 đều dương tính với MDMA và K; Phạm Trọng Cường dương t với MDMA. Như vậy, hành vi của các bị cáo Phạm Hồng T5, Lê Thị Thanh N, Võ Hoài A đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung:
[3] Các bị cáo Phạm Hồng T5, Lê Thị Thanh N, Võ Hoài A tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho bản thân các bị cáo và 02 đối tượng là Phạm Trọng C, Đặng Thành T4 vì vậy các bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ và đúng pháp luật.
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác, vì vậy cần xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng:
[6] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ:
[7] Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bố đẻ bị cáo A là thương binh và được tặng thưởng Huy hiệu 45 tuổi Đảng là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.
- Xét vai trò của các bị cáo:
[8] Bị cáo T5 là người mua ma túy, sử dụng địa điểm nhà của mình để tổ chức cho N, A, C và T4 sử dụng trái phép chất ma túy nên có vai trò chính bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo N và A. Bị cáo N có hành vi đưa ma túy
cho C sử dụng và mời T4 sử dụng ma túy. Bị cáo A là người nhận ma túy của bị cáo T5 để cho bị cáo cùng với N, C, T4 sử dụng do đó bị cáo N và A có vai trò ngang nhau nên mức hình phạt bằng nhau.
- Về hình phạt:
[9] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt để cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung:
[10] Các bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- Về việc xử lý vật chứng:
[11] Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 599MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong số 600MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; 01bì nilon niêm phong số 600MT-A/PC09 đựng 01 đĩa sứ, 01 vỏ túi nilon, 01 thẻ nhựa màu đen, 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa màu xanh, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu đỏ, 02 bật lửa và 01 hộp giấy hình trụ màu xanh là vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị.
+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 phong bì niêm phong số 956 đựng 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone có số imel: 359173733511192 kèm 01 sim và 01 phong bì niêm phong số 600MT-B/PC0902 đưng 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.
+ Trả lại cho bị cáo N 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu tím đã cũ, không lên nguồn gắn thẻ sim số 8401220624130159 và trả lại cho bị cáo A 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh đã cũ, không lên nguồn gắn thẻ sim số 8401200224454923 do không liên quan đến phạm tội.
- Về án phí:
[12] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
[13] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Hồng T5 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2023.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Thị Thanh N 07 (bẩy) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2023.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Võ Hoài An 07 (bẩy) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2023.
- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 599MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong số 600MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; 01bì nilon niêm phong số 600MT-A/PC09 đựng 01 đĩa sứ, 01 vỏ túi nilon, 01 thẻ nhựa màu đen, 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa màu xanh, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu đỏ, 02 bật lửa và 01 hộp giấy hình trụ màu xanh.
+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 phong bì niem phong số 956 đựng 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone có số imel: 359173733511192 kèm 01 sim và 01 phong bì niêm phong số 600MT-B/PC0902 đưng 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.
+ Trả lại cho bị cáo N 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu tím đã cũ, không lên nguồn gắn thẻ sim số 8401220624130159 và trả lại cho bị cáo A 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh đã cũ, không lên nguồn gắn thẻ sim số 8401200224454923.
Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 27/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo Phạm Hồng T5, Lê Thị Thanh N và Võ Hoài A mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Các bị cáo Phạm Hồng T5, Lê Thị Thanh N và Võ Hoài A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hương |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T- A tổ chức sử dụng trái phéo chất ma túy
