|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH Tỉnh Thanh Hóa Bản án số: 58/2024/HS-ST Ngày: 15 - 8 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Bích Thủy
2. Bà Trần Thị Dần
Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Trường – Thư ký tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử trực tuyến sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS, ngày 01/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Bùi Mạnh C; Sinh ngày: 13/8/1989; tại Xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Bản Mét, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ - Sinh năm;1959; con bà: Đinh Thị T - Sinh năm; 1961; tiền án: tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày từ ngày 30/3/2024 đến ngày 05/4/2024; sau đó, bị áp dụng biện pháp tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa xét xử trực tuyến.
2. Họ và tên: Bùi Đức T1; Sinh ngày: 20/8/1988; tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Đức T2 - Sinh năm;1955; Con bà: Nguyễn Thị Khánh X - Sinh năm: 1958; tiền án: tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày từ ngày 30/3/2024 đến ngày 05/4/2024; sau đó, bị áp dụng biện pháp tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa xét xử trực tuyến.
Những người tham gia tố tụng:
* Người bào chữa cho bị cáo Bùi Mạnh C (có mặt)
Ông Phạm Thanh T3 – Trợ giúp viên pháp lý – chi nhánh S1 thuộc Trung tâm trợ giúp viên pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Nguyễn Xuân Đ1, sinh năm: 2001 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu Phố P, thị trấn V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Vào khoảng 13 giờ ngày 29/3/2024, Tổ công tác Công an huyện T, T. T làm việc với đối tượng trong diện theo dõi sau cai nghiện ma túy Nguyễn Xuân Đ1, sinh năm 2001, trú tại khu phố P, TT. V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình làm việc Đ1 đã khai nhận với Tổ công tác hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bản thân và tự nguyện giao nộp 01 vỏ gói nilon màu trắng, kích thước (2x2)cm, bên trong còn bám dính các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy đá). Đ1 khai nhận nguồn gốc ma túy sử dụng do Đ1 mua của Bùi Đức T1, sinh năm 1988, trú tại thôn P, xã T, T, Thanh Hóa với giá 500.000 đồng vào ngày 29/3/2024. Sau đó Đ1 đã sử dụng hết số ma túy mua được, vứt bỏ dụng cụ sử dụng, chỉ giữ lại vỏ gói ma túy cất vào trong người. Tổ công tác đã niêm phong tang vật nói trên để điều tra làm rõ vụ việc.
Căn cứ và tài liệu đã thu thập, ngày 30/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Bùi Đức T1 về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Xuân Đ1. Khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Bùi Đức T1, phát hiện, thu giữ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 01 chai thủy tinh hình trụ tròn chiều dài 15 cm, 01 ống thủy tinh dạng cóng, một đầu gắn với ống hút nhựa màu trắng có chiều dài khoảng 10cm, 01 cóng thủy tinh chiều dài khoảng 5 cm một đầu phình to dạng bình, một đầu gắn ống hút nhựa), 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2x2)cm bên trong bám dính các hạt tinh thể màu trắng. Bùi Đức T1 khai nhận: khoảng 10 giờ ngày 29/3/2024 T1 gặp Đ1 tại khu phố P, TT. V, Đ1 hỏi mua ma túy của T1, do trên người T1 không có sẵn ma túy, nên T1 đã hẹn Đ1 lúc nào có sẽ bán cho. Sau đó, T1 đã liên lạc với Bùi Mạnh C, sinh năm 1989, trú tại bản Mét, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình qua tài khoản zalo của T1, để hỏi mua ma túy từ C. Khi C đồng ý, T1 đã chuyển tiền qua tài khoản của C mở tại ngân hàng B số tiền 850.000 đồng để mua 02 gói ma túy đá. Sau đó, T1 đi nhờ xe của người đi đường ra khu vực quốc lộ D thuộc thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình để lấy ma túy theo chỉ dẫn của Bùi Mạnh C. Sau khi lấy được ma túy, T1 đi nhờ xe của người đi đường về Thị trấn V, huyện T, khi về đến khu phố P, TT. V, T1 đến gần nhà Đ1, gọi Đ1 ra bán cho Đ1 01 gói ma túy lấy 500.000đ. Sau đó, T1 về nhà ở tại thôn P, xã T, huyện T và sử dụng gói ma túy còn lại tại phòng ngủ của mình. Số tiền 500.000 đồng bán ma túy cho Đ1, T1 đã tiêu xài cá nhân hết.
Căn cứ vào tài liệu đã thu thập được, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Bùi Mạnh C về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Bùi Đức T1 và khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Bùi Mạnh C nhưng không thu giữ được gì. Tại Cơ quan điều tra C khai nhận: Ngày 29/3/2024, khi C đang ở nhà tại bản M, xã K, thì T1 liên lạc qua zalo hỏi mua ma túy, sau khi trao đổi, T1 chuyển vào tài khoản của C mở tại ngân hàng B số tiền 850.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, C bắt xe đến bến xe huyện N, tỉnh Ninh Bình mua của một người đàn ông lạ mặt, C không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể 01 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng. Sau đó, C bắt xe về nhà lấy ra một ít ma túy để sử dụng, rồi phân chia số ma túy còn lại thành 02 gói nhỏ, mang ra đoạn đường chân cầu Q đoạn thôn Đ, xã P, huyện N cất giấu rồi chỉ chỗ cho T1 lấy. Sau đó, C về nhà của mình ở bản M, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình cho đến khi bị Cơ quan CSĐT Công an huyện T bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
Tại bản kết luận giám định số 1378/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:
- - Đối với 01 Phong bì viền xanh được dán kín, niêm phong bởi các hình dấu của Công an thị trấn V- Công an huyện T và các chữ ký của Nguyễn Xuân Đ1, Nguyễn Phi K, Lưu Văn K1, Đại úy Lê Trần S, Phạm Anh Đ2 niêm phong 01 vỏ túi nilon thu của Nguyễn Xuân Đ1: Các hạt tinh thể màu trắng bám dính trong túi nilon màu trắng kích thước (2x2)cm niêm phong trong 01 phong bì viền xanh đỏ, thu giữ của Nguyễn Xuân Đ1 là chất ma túy, loại Methaphetamine.
- - Đối với 01 Phong bì do Công an huyện T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các hình dấu của “Công an xã T – Công an huyện T” và các chữ ký của Quách Văn N, Bùi Văn T4, Phạm Anh Đ2, Đại úy Nguyễn Phú T5, Bùi Đức T1 chứa các vật thu giữ của Bùi Đức T1: Các hạt tinh thể màu trắng bám dính trong túi nilon màu trắng kích thước (2x2)cm là chất ma túy, loại M; Các hạt tinh thể màu trắng bám dính trong ống thủy tinh dạng cóng, một đầu gắn với ống hút nhựa màu trắng, có chiều dài khoảng 10cm thu giữ của Bùi Đức T1 là chất ma túy, loại Methaphetamine; Tìm thấy chất ma túy, loại M bám dính bên trong chai thủy tinh dạng trụ, hình tròn, có chiều dài khoảng 15cm thu giữ của Bùi Đức T1; Tìm thấy chất ma túy, loại M bám dính bên trong cóng thủy tinh, chiều dài khoảng 5cm, một đầu phình to dạnh bình, một đầu gắn với ống nhựa, dạng ống hút thu giữ của Bùi Đức T1. (BL: 86, 87)
- - Đối với 02 chiếc điện thoại OPPO A54 màu đen và OPPO A15 màu trắng thu giữ cuả T1 và C, Cơ quan CSĐT đã trưng cầu phòng K2 Công an tỉnh T giám định, khôi phục toàn bộ dữ liệu hình ảnh, âm thanh, tin nhắn của 02 chiếc điện thoại này. Tại bản kết luận số 1925/KL-KTHS ngày 16/5/2024 Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:
- - Trong chiếc điện thoại OPPO A54 màu đen tìm thấy 02 hình ảnh, 04 ảnh chụp màn hình thể hiện tin nhắn SMS, 45 tin nhắn Zalo. 93 tin nhắn Facebook Messenger trong ngày 29/3/2024.
- - Trong chiếc điện thoại OPPO A15 màu trắng tìm thấy 09 tin nhắn SMS, 98 tin nhắn Zalo, 01 tin nhắn Facebook Messenger trong ngày 29/3/2024.
- Tất cả dữ liệu thu giữ được lưu vào tệp tin “PhuLuc.rar”, dung lượng 2.6MB lưu trữ trong 01 đĩa DVD, lưu kèm hồ sơ vụ án.
Đối với người đàn ông đã bán số ma túy cho Bùi Mạnh C vào ngày 29/3/2024, do bị cáo khai nhận là lần đầu mua ma túy của người này, không xác định được tên, địa chỉ, không nhớ đặc điểm nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
Đối với Nguyễn Xuân Đ1, người đã mua ma túy của Bùi Đức T1, sử dụng hết ma túy, kết quả xét nghiệm nước tiểu của Đ1 dương tính với ma túy, nên Công an huyện T đã thu thập tài liệu, xử lý hành chính đối với Đ1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Đức T1, Công an huyện T đã thu thập tài liệu và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T1.
Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập xác định hiện tại bị cáo Bùi Đức T1 và Bùi Mạnh C không có tài sản và thu nhập.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:
Thu giữ của Nguyễn Xuân Đ1: 01 túi nilon màu trắng kích thước (2x2)cm, một viền màu đỏ.
Thu giữ của Bùi Đức T1: 01 túi nilon màu trắng kích thước (2x2)cm, mật đầu có khóa bấm; 01 chai thủy tinh dạng trụ, hình tròn, có chiều dài khoảng 15cm; 01 cóng thủy tinh, chiều dài khoảng 5cm, một đầu phình to dạnh bình, một đầu gắn với ống nhựa, dạng ống hút; 01 ống thủy tinh dạng cóng, một đầu gắn với ống hút nhựa màu trắng, có chiều dài khoảng 10cm; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 Điện thoại OPPO A54 màu đen, màn hình cảm ứng cũ, đã qua sử dụng trong đó có gắn thẻ sim ghi số 0984048000048994137,
Thu giữ của Bùi Mạnh C 01 điện thoại OPPO A15 màu trắng, màn hình cảm ứng cũ, đã qua sử dụng trong đó có gắn thẻ sim ghi số 0984048000057295758.
Những vật chứng này sẽ được chuyển sang kho vật chứng của Chi cục THADS huyện T chờ xử lý. Các vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKSTT, ngày 19/07/2024, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Bùi Mạnh C và Bùi Đức T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).
* Phần tranh tụng tại phiên tòa:
- - Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; xử phạt Bùi Mạnh C và Bùi Đức T1 từ 25 tháng tù đến 28 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 30/03/2024).
- Kết quả xác minh về tài sản thu nhập, xác định hiện tại các bị cáo không có tài sản và thu nhập nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
- Về vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS):
- Tịch thu tiêu hủy đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 thẻ sim ghi số 0984048000048994137; 01 thẻ sim ghi số 0984048000057295758.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với 01 Điện thoại OPPO A54 màu đen, màn hình cảm ứng cũ, đã qua sử dụng thu của Bùi Đức T1 và 01 điện thoại OPPO A15 màu trắng, màn hình cảm ứng cũ, đã qua sử dụng thu của Bùi Mạnh C là vật dùng vào việc phạm tội.
Đề nghị truy thu bị cáo C 500.000 đồng là tiền bán ma túy cho Đ1; truy thu của T1 850.000đ là tiền T1 bán ma túy cho C.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy Thu giữ của Nguyễn Xuân Đ1: 01 túi nilon màu trắng kích thước (2x2)cm, một viền màu đỏ không còn giá trị sử dụng. Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon màu trắng kích thước (2x2)cm, mật đầu có khóa bấm; 01 chai thủy tinh dạng trụ, hình tròn, có chiều dài khoảng 15cm; 01 cóng thủy tinh, chiều dài khoảng 5cm, một đầu phình to dạnh bình, một đầu gắn với ống nhựa, dạng ống hút; 01 ống thủy tinh dạng cóng, một đầu gắn với ống hút nhựa màu trắng, có chiều dài khoảng 10cm; 01 bật lửa ga màu đỏ thu giữ của Bùi Đức T1 là vật không có giá trị sử dụng.
- -Tại phiên tòa bị cáo Bùi Mạnh C thừa nhận hành vi bán 01 gói ma túy loại methamphetamin cho Đ1 với giá 500.000 đồng ở khu phố P, TT. V; bị cáo Bùi Đức T1 thừa nhận bán 02 gói ma túy loại methamphetamin cho C với giá 850.000 đồng ở đoạn đường chân cầu Q đoạn thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Các bị cáo thấy ân hận về hành vi của mình nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Người bào chữa cho bị cáo Bùi Mạnh C trình bày luận cứ bào chữa: Thống nhất với lời khai bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa. Thống nhất với bản cáo trạng về tội danh đối với bị cáo C. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của VKS đề xuất, lý do bị cáo không vì mục đích lợi nhuận, do nể nang bạn bè nên đã mua giúp. Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, hoàn cảnh điều kiện gia đình khó khăn là người dân tộc thiểu số sống vùng kinh tế đặc biệt khó khăn đề nghị HĐXX áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Bị cáo có đơn đề nghị xin miễn tiền án phí đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận.
- Phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS. Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên Cơ quan điều tra công an huyện T và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã nhận tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với diễn biến, thời gian, địa điểm; biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, kết quả giám định chất ma túy bám dính; cùng với những tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo như sau: Khoảng 10 giờ ngày 29/3/2024 T1 gặp Đ1 tại khu phố P, TT. V, Đ1 hỏi mua ma túy của T1, do trên người T1 không có sẵn ma túy, nên T1 đã hẹn Đ1 lúc nào có sẽ bán cho. Sau đó, T1 đã liên lạc với Bùi Mạnh C, sinh năm 1989, trú tại bản Mét, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình qua tài khoản zalo của T1, để hỏi mua ma túy từ C. Khi C đồng ý, T1 đã chuyển tiền qua tài khoản của C mở tại ngân hàng B số tiền 850.000 đồng để mua 02 gói ma túy đá. Sau đó, T1 đi nhờ xe của người đi đường ra khu vực quốc lộ D thuộc thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình để lấy ma túy theo chỉ dẫn của Bùi Mạnh C. Sau khi lấy được ma túy, T1 đi nhờ xe của người đi đường về Thị trấn V, huyện T, khi về đến khu phố P, TT. V, T1 đến gần nhà Đ1, gọi Đ1 ra bán cho Đ1 01 gói ma túy lấy 500.000đ. Sau đó, T1 về nhà ở tại thôn P, xã T, huyện T và sử dụng gói ma túy còn lại tại phòng ngủ của mình. HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của VKSND huyện Thạch Thành truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất vụ án: Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước mà còn trực tiếp xâm hại đến sức khỏe, nhân cách, đạo đức, lối sống con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội trên địa bàn. Hội đồng xét xử xét thấy, cần xét xử các bị cáo một mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng và có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo sớm trở về đoàn tụ gia đình và trở thành người công dân có ích cho xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước. Đối với đề xuất của người bào chữa cho bị cáo C đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 2 Điều 51 BLHS vì bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức còn hạn chế để xem xét về tình tiết giảm nhẹ, HĐXX xét thấy không có cơ sở chấp nhận theo pháp luật yêu cầu này của người bào chữa.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xác minh về điều kiện tài sản xác định các bị cáo hiện không có tài sản và thu nhập đáng kể gì. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo là phù hợp.
[6] Đối người đã bán ma túy cho bị cáo C vào ngày 29/3/2024, do bị cáo khai nhận là lần đầu mua ma túy của người này, không xác định được tên, địa chỉ, không nhớ đặc điểm nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án là đúng quy định.
[7] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:
- - 01 túi nilon màu trắng kích thước (2x2)cm, một viền màu đỏ thu giữ của Nguyễn Xuân Đ1; 01 túi nilon màu trắng kích thước (2x2)cm, mật đầu có khóa bấm thu giữ của Bùi Đức T1; 01 chai thủy tinh dạng trụ, hình tròn, có chiều dài khoảng 15cm; 01 cóng thủy tinh, chiều dài khoảng 5cm, một đầu phình to dạnh bình, một đầu gắn với ống nhựa, dạng ống hút; 01 ống thủy tinh dạng cóng, một đầu gắn với ống hút nhựa màu trắng, có chiều dài khoảng 10cm; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 thẻ sim ghi số 0984048000048994137; 01 thẻ sim ghi số 0984048000057295758 là vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với: 01 Điện thoại OPPO A54 màu đen, màn hình cảm ứng cũ, đã qua sử dụng thu của Bùi Đức T1; 01 điện thoại OPPO A15 màu trắng, màn hình cảm ứng cũ, đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Mạnh C là vật liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.
- - Cần truy thu bị cáo Bùi Đức T1 500.000đ và bị cáo Bùi Mạnh C 850.000đ là tiền thu lời từ việc phạm tội.
- [8] Về án phí: Bị cáo T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo C có đơn xin miễn tiền án phí, người bào chữa đề nghị miễn án phí cho bị cáo vì bị cáo là dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Căn cứ điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, HĐXX miễn tiền án phí HSST cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Mạnh C, Bùi Đức T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với các bị cáo.
- - Xử phạt: Bị cáo Bùi Mạnh C 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 30/3/2024).
- - Xử phạt: Bị cáo Bùi Đức T1 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 30/3/2024).
- - Áp dụng: Khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, điểm b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016,
- + Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 túi nilon màu trắng kích thước (2x2)cm, một viền màu đỏ thu giữ của Nguyễn Xuân Đ1; 01 túi nilon màu trắng kích thước (2x2)cm, mật đầu có khóa bấm; 01 chai thủy tinh dạng trụ, hình tròn, có chiều dài khoảng 15cm; 01 cóng thủy tinh, chiều dài khoảng 5cm, một đầu phình to dạnh bình, một đầu gắn với ống nhựa, dạng ống hút; 01 ống thủy tinh dạng cóng, một đầu gắn với ống hút nhựa màu trắng, có chiều dài khoảng 10cm; 01 bật lửa ga màu đỏ thu giữ của Bùi Đức T1; 01 thẻ sim ghi số 0984048000048994137; 01 thẻ sim ghi số 0984048000057295758.
- + Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với: 01 Điện thoại OPPO A54 màu đen, màn hình cảm ứng cũ, đã qua sử dụng thu của Bùi Đức T1; 01 điện thoại OPPO A15 màu trắng, màn hình cảm ứng cũ, đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Mạnh C.
- Các vật chứng trên đang được lưu trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/07/2024.
- + Truy thu của bị cáo Bùi Đức T1 500.000đ và Bùi Mạnh C 850.000đ để sung quỹ nhà nước.
+ Bị cáo T1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST. Miễn tiền án phí HSST cho bị cáo C.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, người bào chữa của bị cáo Bùi Mạnh C. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Văn Quân |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Bùi Thị Bích Thủy |
Trần Thị Dần |
Lê Văn Quân |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Mạnh Chiến, Bùi Đức Thịnh mua bán trái phép chất ma túy
