Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15/8/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân và

gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kiên Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Là.
  2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh .

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hoàn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 100/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024; về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
  2. Bị đơn: Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1989; địa chỉ: Số nhà G, khóm T, thị Trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Anh T2 có mặt; chị T1 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn, anh Nguyễn Văn T trình bày:

- A và chị Phạm Thị T1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã M (nay là xã M), huyện Đ, tỉnh Thái Bình ngày 13/6/2010. Sau kết hôn vợ chồng sinh sống cùng nhà với bố mẹ đẻ anh tại xã M, huyện Đ, vợ chồng sống hòa thuận được một năm, sau đó thường xuyên xẩy ra va chạm cãi nhau; nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau. Năm 2020 vợ chồng ly thân, sau đó chị T1 đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ tại tỉnh Đồng Tháp sinh sống. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T1.

- Anh và chị Phạm Thị T1 có 01 con chung là Nguyễn Phạm Ngọc N, sinh

ngày 16/9/2011. Hiện tại con chung đang sinh sống cùng chị T1. Do con chung đang sinh sống ổn định cùng chị T1 và con có nguyện vọng được ở với chị T1 nên anh đề nghị giao con chung cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.500.000 đồng

- Anh và chị T1 không có tài sản chung và không có nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

* Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án; bị đơn, chị Phạm Thị T1 trình bày:

- Chị thống nhất về thời gian và quá trình kết hôn, thời gian mâu thuẫn và ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng như anh T khai. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị đồng ý ly hôn với anh T. Chị và anh T đã thống nhất lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giải quyết ly hôn cho chị và anh T.

- Chị và anh T có 01 con chung như anh T khai. Ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và nhất trí với việc anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng.

- Chị và anh T không có tài sản chung và không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Chị đã được nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình liên quan đến việc giải quyết vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa anh T và chị. Do điều kiện chị ở xa, công việc bận mải nên chị xin được vắng mặt tại các phiên xét xử của Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1]. Chị Phạm Thị T1 có đơn lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (Tòa án nơi anh Nguyễn Văn T cư trú) giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị và anh T. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Bị đơn, chị Phạm Thị T1 có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải cho anh T và chị T1 được, đồng thời đưa vụ án ra xét xử.

[3]. Bị đơn, chị Phạm Thị T1 có đơn xin được vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị T1.

- Về nội dung:

[1]. Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn T và chị Phạm Thị T1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh T và chị T1 không có hạnh phúc, vợ chồng hay xẩy ra va chạm cãi nhau. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau; vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020, cả hai không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng và đều không muốn duy trì đời sống hôn nhân. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T.

[2]. Về con chung: Con chung hiện đang sinh sống ổn định cùng chị T1 và con có nguyện vọng được tiếp tục ở với chị T1; từ khi vợ chồng ly thân, chị T1 vẫn chăm sóc con chu đáo, đảm bảo việc học tập sinh hoạt của con. Anh T2 cũng đồng ý để chị T1 được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và anh chị thỏa thuận, anh T2 cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.500.000 đồng. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, cần giao con chung cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng; mức anh T2 cấp dưỡng cho con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng là phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của anh T2 và nhu cầu thiết yếu của con chung.

[3]. Về tài sản: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4]. Về án phí: Anh T2 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[5]. Về quyền kháng cáo: Anh T2 và chị T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Phạm Thị T1.
  2. Về con chung: Xử giao con chung Nguyễn Phạm Ngọc N, sinh ngày 16/9/2011 cho chị Phạm Thị T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng; thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Anh Nguyễn Văn T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; anh Nguyễn Văn T và chị Phạm Thị T1 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng cho con khi cần thiết.

  1. Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
  1. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tổng cộng anh T phải nộp 600.000 đồng tiền án phí; được trừ 300.000 đồng anh T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003231 ngày 19/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng, anh T còn phải nộp 300.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Phạm Thị T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đông Hưng;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - Thi hành án DS huyện Đông Hưng;
  • - UBND xã Minh Phú, huyện Đông Hưng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Kiên Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình Nguyễn Văn Tuấn- Phạm Thị Thơ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger