|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15-8-2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thế Thị Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thắm.
- Bà Nguyễn Kim Lý
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 306/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Đỗ Thùy N, sinh năm 1989 (Xin vắng mặt).
- Địa chỉ thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L.
- Địa chỉ tạm trú: Số 140 đường N1-D16, khu phố 6, phường T, thị xã B, tỉnh B.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn V, sinh năm 1988 (Vắng).
- Địa chỉ thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L.
- Địa chỉ tạm trú: Số 140 đường N1-D16, khu phố 6, phường T, thị xã B, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 18/4/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Thùy N trình bày:
Bà N và ông Nguyễn Tuấn V có đăng ký kết hôn ngày 16/3/2015 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh L, kết hôn tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài năm đầu sau đó thì nảy sinh mâu thuẫn và không thể hàn gắn được. Ông V không lo làm ăn, không lo kinh tế trong gia đình cũng không quan tâm chăm sóc vợ con. Vợ chồng luôn bất đồng quan điểm nhiều mặt trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng không còn tình cảm với nhau, đã sống ly thân từ lâu và không còn quan tâm chăm sóc nhau. Hiện vợ chồng mâu thuẫn đã quá trầm trọng không thể tiếp tục hôn nhân, tình cảm của bà N với ông V đã hết nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông V.
Về con chung: Bà N và ông V có 01 con chung là Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 04/4/2015. Hiện cháu K đang ở cùng với bà N đã ổn định. Bà N làm công nhân thu nhập mỗi tháng khoảng 7.000.000 đồng đủ điều kiện nuôi con. Do đó, bà N yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Tuấn V đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát :
- - Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Quan hệ pháp luật các bên tranh chấp là tranh chấp về ly hôn, nuôi con; bị đơn cư trú tại khu phố 6, phường T, thị xã B, tỉnh B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thùy N và ông Nguyễn Tuấn V có đăng ký kết hôn vào ngày 16/3/2015 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh L. Hôn nhân tự nguyện, do đó hôn nhân giữa bà N và ông V là hợp pháp.
Bà N yêu cầu ly hôn với ông V vì vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài năm đầu sau đó thì nảy sinh mâu thuẫn và không thể hàn gắn được. Ông V không lo làm ăn, không lo kinh tế trong gia đình cũng không quan tâm chăm sóc vợ con. Vợ chồng luôn bất đồng quan điểm nhiều mặt trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng không còn tình cảm với nhau, đã sống ly thân từ lâu và không còn quan tâm chăm sóc nhau. Hiện vợ chồng mâu thuẫn đã quá trầm trọng không thể tiếp tục hôn nhân, tình cảm của bà N với ông V đã hết nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông V.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông V đến tham gia hòa giải đoàn tụ, tham gia tố tụng cũng N tham gia phiên tòa nhưng ông V không tham gia và cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Điều này cho thấy ông V không quan tâm đến hạnh phúc gia đình, không muốn hàn gắn với bà N.
N vậy, mâu thuẫn giữa bà N và ông V đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì hôn nhân, do đó yêu cầu ly hôn của bà N là có căn cứ và được chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà N và ông V có 01 con chung là Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 04/4/2015. Cháu K hiện do bà N nuôi dưỡng đã ổn định. Đồng thời cháu K có ý kiến muốn chung sống với bà N. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của bà N giao cháu K cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ông V không phải cấp dưỡng nuôi con do bà N không có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông V cũng không có ý kiến gì vấn đề này nên không xem xét giải quyết.
[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà N phải chịu theo quy định pháp luật.
[4] Các đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thùy N đối với bị đơn ông Nguyễn Tuấn V về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con”; bà Đỗ Thùy N được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn V.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 04/4/2015 cho bà Đỗ Thùy N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ông Nguyễn Tuấn V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà N và ông V đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, ông V được quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không xem xét giải quyết.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Bà Đỗ Thùy N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số: AA/2021/0011119 ngày 25/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thế Thị Ngọc Anh |
Bản án số 58/2023/HNGĐ-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 58/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn do mâu thuẫn
