Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG PHÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST

Ngày 14/8/2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Thạch Thanh Tâm

Ông Lê Hồng Điệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như-Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 86/2024/TLST-HNGĐ ngày 14/6/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/7/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:Danh Thị Mỹ N, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Đào Hoài V (Đào Hòa V1), sinh năm 1976; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Danh Thị Mỹ N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân:N và ông V1 kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L vào năm 2008. Trong thời gian đầu chung sống thì ông bà sống rất hạnh phúc, nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không hợp nhau và ly thân từ khoảng tháng 01/2012 cho đến nay. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà N yêu cầu giải quyết được ly hôn với ông V1.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà N và ông V1 có 02 người con chung là Đào Hòa T (nam, sinh năm 2000) và Đào Hòa T1 (nam, sinh ngày 19/10/2008). Sau khi ly hôn, do Đào Hòa T đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết, còn đối với Đào Hòa T1 thì bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và đủ khả năng nuôi con nên tự nguyện không yêu cầu ông V1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung:N trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là ông Đào Hoài V đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án thì Thẩm phán xác định về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của pháp luật và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cũng đảm bảo đúng quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Tại phiên tòa, bị đơn là ông Đào Hoài V vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Xét thấy, ông Đào Hoài V đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên căn cứ Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Đào Hoài V.

[2]. Bà Danh Thị Mỹ N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn và tranh chấp nuôi con với ông Đào Hoài V có nơi cư trú tại xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn và Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Đối với bị đơn là ông Đào Hoài V sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông V nhưng ông không có kiến gì hay gửi văn bản cho Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia phiên họp và phiên hòa giải nên điều này cho thấy bị đơn đã tự từ chối quyền được trình bày để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như trình bày ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, căn cứ vào Khoản 2, Khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[4]. Về quan hệ hôn nhân:N và ông V kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng vào năm 2008, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và tại thời điểm kết hôn bà N và ông V không vi phạm điều cấm kết hôn. Vì vậy, hôn nhân giữa bà N và ông V là hợp pháp theo quy định tại Điều 9, Điều 10 và Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

Trong thời gian đầu chung sống, thì bà N và ông V s rất hạnh phúc, nhưng về sau thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không có sự tôn trọng nhau, ly thân từ khoảng tháng 01/2012 cho đến nay. Từ đó cho thấy, bà N và ông V đã không còn tình nghĩa vợ chồng, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ông bà cũng sống ly thân nên đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014.

Xét thấy, thực trạng mâu thuẫn hôn nhân giữa bà N và ông V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn hay hòa giải được nên căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N.

[5]. Về con chung: Do con chung là Đào Hòa T (nam, sinh năm 2000) đã thành niên (đủ 18 tuổi) và bà N không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Xét thấy, do cháu Đào Hòa T1 (nam, sinh ngày 19/10/2008) đang do bà N là người trực tiếp nuôi dưỡng, được chăm sóc và giáo dục trong điều kiện tốt nhất, hiện đang sống ổn định và phát triển về mọi mặt và đã quen với điều kiện môi trường sống chung với mẹ. Do đó, nhằm ổn định sự phát triển về mọi mặt tâm sinh lý, đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng được tốt nhất, cũng như nhằm tránh gây sự xáo trộn, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cháu T1, cũng như phù hợp với nguyện vọng của cháu T1 muốn được sống chung với mẹ và không yêu cầu cha cấp dưỡng nên căn cứ vào Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu T1 cho bà N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi).

Ông V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con do bà N có công việc ổn định cũng như được sự hỗ trợ của người thân trong gia đình nên bà N đủ khả năng nuôi dưỡng cháu T1 và tự nguyện không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6]. Về tài sản chung và nợ chung:N trình bày không có và không yêu cầu giải quyết, ông V cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7]. Về án phí:N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.

[8]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tố tụng cũng như quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 53; Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Danh Thị Mỹ N được ly hôn với ông Đào Hoài V.

2. Về con chung: Do con chung là Đào Hòa T (nam, sinh năm 2000) đã thành niên (đủ 18 tuổi) và bà Danh Thị Mỹ N không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Giao con chung là Đào Hòa T1 (nam, sinh ngày 19/10/2008) cho bà Danh Thị Mỹ N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống mình. Ông Đào Hoài V không cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Đào Hoài V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở.

Ông Đào Hoài V không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà Danh Thị Mỹ N.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Danh Thị Mỹ N tự trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Bà Danh Thị Mỹ N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005469 ngày 13/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng nên bà Danh Thị Mỹ N đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Long Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Long Phú;
  • - UBND xã Trường Khánh, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Bảo Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Danh Thị Mỹ N được ly hôn với ông Đào Hoài V.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger