|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2024/HSST Ngày: 14/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bách.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành và bà Vũ Thị Linh.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Giao- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Thiện- Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Trại Tạm giam Công an tỉnh Hải Dương có ông Nguyễn Hoàng Sơn- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh; Bà Đỗ Thị Loan- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh; ông Nguyễn Văn Chính, Trần Văn Tuấn- Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.
Ngày 14/6/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh và Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLST-HS, ngày 28 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 31/5/2024, đối với bị cáo:
Bùi Văn T- sinh năm 1993;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn B, xã A, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ Bùi Văn T1 (đã chết), mẹ đẻ Đỗ Thị N; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Bản án số 60/2014/HSST ngày 17/9/2014 của TAND huyện Đông Triều xử phạt 24 tháng tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 28/4/2016.
Bản án số 03/2019/HSST ngày 11/01/2019 của TAND thị xã Đông Triều xử phạt 30 tháng tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong bản án ngày 28/11/2020.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/4/2024 đến ngày 10/4/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.
Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Anh Đào Thanh T- sinh năm 1989.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 07/4/2024, Bùi Văn T đi xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS: 14Z1-345.50 từ nhà ở đến khu vực dốc Bông thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang để mua ma túy. T gặp và mua 500.000đ tiền ma túy của một người đàn ông không rõ nhân thân lý lịch được 01 gói ma túy. T cầm gói ma túy cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi cất giấu ở trong túi bên phải áo khoác đang mặc rồi đi về nhà. Đến khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực ngã ba Bắc Nội, phường Bến Tắm, thành phố Chí Linh thì bị lực lượng công an thành phố Chí Linh phát hiện bắt quả tang, đã thu giữ trong túi bên phải áo khoác đang mặc của T: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong chứa 01 gói nilon màu trắng, kích thước (2x1,8)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. T khai chất tinh thể màu trắng là ma túy T vừa mua để sử dụng cho bản thân; tạm giữ xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS: 14Z1-345.50.
Tại bản kết luận giám định số 210/KL-KTHS, ngày 10/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định khối lượng là 0,255g là ma túy, loại Methamphetamine.
Bản Cáo trạng số 61/CT-VKS-CL, ngày 24/5/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Bùi Văn T thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, xử bị cáo mức án thấp nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 14 đến 17 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 07/4/2024; Về hình phạt bổ sung: không áp dụng; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong số 210/KL-KTHS, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương bên trong có 0,182g ma tuý, loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Người làm chứng anh Trường được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai nên căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt.
- Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp nội dung biên bản khám xét, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hồi 18 giờ 20 phút, ngày 07/4/2024, tại ngã ba Bắc Nội, phường Bến Tắm, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, bị cáo Bùi Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,255g ma túy loại Methamphetamine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.
- Hành vi của bị cáo Bùi Văn T là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ Methamphetamine là vi phạm pháp luật nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện với khối lượng ma túy 0,255g, loại Methamphetamine. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng:
- 5.1. Bị cáo Bùi Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- 5.2. Bị cáo Bùi Văn T trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- 5.3. Bị cáo Bùi Văn T 02 lần bị kết án theo Bản án số 60/2014/HSST ngày 17/9/2014 của TAND huyện Đông Triều, chấp hành xong bản án ngày 28/4/2016 và Bản án số 03/2019/HSST ngày 11/01/2019 của TAND thị xã Đông Triều, chấp hành xong bản án ngày 28/11/2020 nên bị coi là có nhân thân xấu khi quyết định hình phạt.
- Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo Bùi Văn T khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập, không có tài sản. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Sau khi giám định, cơ quan giám định hoàn lại phong bì niêm phong số 210/KL-KTHS, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương bên trong có 0,182g ma tuý, loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Methamphetamine là chất cấm tàng trữ, lưu hành; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long không có giá trị sử dụng. Do vậy cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với người liên quan và các vấn đề khác:
- 9.1. Người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo T nhưng không rõ đặc điểm, căn cước nên chưa có căn cứ để xử lý.
- 9.2. Đối xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS: 14Z1-345.50 là tài sản của anh Hoàng Văn H- sinh năm 1986 ở thôn B, xã A, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh cho T mượn để đi. Anh H không biết T dùng xe đi mua ma túy. Xác định anh H và chiếc xe không liên quan đến tội phạm nên Cơ quan Công an thành phố Chí Linh đã trả lại cho anh H là phù hợp.
- Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 293; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong số 210/KL-KTHS, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương bên trong có 0,182g ma tuý, loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).
- Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ 07/4/2024, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Bách |
Bản án số 58/2024/HSST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 58/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn T mua 0,255g ma túy để sử dụng thì bị bắt
