|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 58/2024/HS-ST Ngày 14 tháng 6 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ánh Hằng và ông Nguyễn Văn Bằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Bé N, sinh năm 1990 tại huyện C - An Giang, nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Phật giáo Hoà Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1 và bà Nguyễn Ngọc L; anh chị em ruột có 02 người, bị can là người thứ nhất; chồng Mạc Vũ H; con có 02 người, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án: không.
Tiền sự: ngày 30/8/2022, Ủy ban nhân dân thành phố C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu, với số tiền 20.000.000 đồng, chưa nộp phạt.
Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/3/2024, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Mạc Vũ H, sinh năm 1989; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 04/12/2023, Tổ Công tác thuộc Đ – Trật tự Công an thành phố C đang tuần tra, kiểm soát trên địa bàn. Đến khu vực đường B thuộc khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang phát hiện xe mô tô biển số 67F9 – 4868 do Nguyễn Thị Bé N điều khiển có biểu hiện nghi vấn nên ra hiệu lệnh dừng phương tiện để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong vỏ xách màu xanh - vàng - đỏ có chứa 200 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu hiệu Jet được để trước baga xe mô tô.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng tháng 10/2023, Nguyễn Thị Bé N đến khu vực cầu K thuộc khóm V, phường N, thành phố C để mua cá đem về bán lại kiếm lời. Trong khoảng thời gian này, N gặp một thanh niên người Campuchia (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi N có vận chuyển thuốc lá không, tiền công là 50.000 đồng, N đồng ý. Khoảng 05 giờ ngày 04/12/2023, người thanh niên nói với N khi nào bán cá xong đến chân cầu K nhận một vỏ xách vận chuyển đến đầu đường B sẽ có người ra nhận. Khoảng 09 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 67F9 – 4868 đến địa điểm đã hẹn trước lấy một vỏ xách vỏ xách màu xanh - vàng - đỏ có chứa bao thuốc lá, để trên baga xe mô tô điều khiển chạy đi thì bị Tổ tuần tra của Công an thành phố C phát hiện bắt giữ N cùng tang vật.
Vật chứng thu giữ:
- 200 (hai trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Jet;
- 01 (một) xe mô tô biển số 67F9 - 4868, số khung: 2023172, số máy: 00178638, trên lốc máy có chữ LIFAN – HONDA.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can Nguyễn Thị Bé N.
Tại Cáo trạng số 37/CT-VKSC-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bé N về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mạc Vũ H khai ông là chủ sở hữu xe môtô 67F9 - 4868, không biết bị cáo sử dụng xe để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, có yêu cầu xin được nhận lại xe.
Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Bé N. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: áp dụng điểm e khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bé N từ 06 tháng đến 09 (chín) tháng tù, về tội “Vận chuyển hàng cấm”, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy: 200 (hai trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Jet.
- Trả lại 01 (một) xe mô tô biển số 67F9 - 4868, số khung: 2023172, số máy: 00178638, trên lốc máy có chữ LIFAN – HONDA cho Mạc Vũ H.
Về trách nhiệm dân sự: không.
Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án theo quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Thị Bé N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Mạc Vũ H không tranh luận. Bị cáo N xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Đối với hành vi bị truy tố của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Bé N khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ căn cứ để xác định:
Ngày 04/12/2023, tại khu vực B thuộc khóm V, phường N, thành phố C, bị cáo Nguyễn Thị Bé N có hành vi vận chuyển 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Jet bị lực lượng Công án phát hiện, thu giữ.
Nguyễn Thị Bé N đã bị xử phạt hành chính về hành vi Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1418/QĐ-XPHC ngày 30/8/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C, số tiền 20.000.000 đồng, chưa nộp phạt.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế trong việc sản xuất, vận chuyển những mặt hàng kinh doanh có điều kiện do Nhà nước quản lý. Đối chiếu với quy định pháp luật hình sự, tội danh điều kiện áp dụng thì hành vi của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện bị cáo có hai con còn nhỏ ở độ tuổi đang trưởng thành (cháu lớn sinh năm 2009, cháu nhỏ sinh năm 2014); xét thấy không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù vì bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trận tự, an toàn xã hội. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 52 và Điều 65 Bộ luật hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thuộc thành phần lao động, không nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu, nhãn hiệu Jet bị thu giữ là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 67F9 – 4868 của ông Mạc Vũ H mua lại từ người khác (không nhớ rõ họ tên) để sử dụng. Quá trình điều tra và tại
phiên tòa, H không biết bị cáo sử dụng xe để làm phương tiện vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu nên xét giao trả xe mô tô nêu trên cho ông H.
[6] Về các vấn đề khác: Đối với người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) thuê bị cáo vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau
[7] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bé N phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Bé N 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 14/6/2024 (mười bốn, tháng sáu, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
Giao bị cáo Nguyễn Thị Bé N cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo N có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Bé N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.
2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu tiêu hủy: 200 (hai trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Jet;
- Giao trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mạc Vũ H: 01 (một) xe mô tô màu xanh, có gắn biển số 67F9-4868, số máy: 00178638, số khung:
2023172, trên lốc máy có chữ LIFAN – HONDA (theo kết quả tra cứu xe màu ghi, nhãn hiệu FUGIAR).
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo Nguyễn Thị Bé N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Nguyễn Thị Bé N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Mạc Vũ H có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Lâm Ngọc Phượng |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về vận chuyển hàng cấm (hình sự)
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bé Ngọc phạm tội:“Vận chuyển hàng cấm”
