Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày 14-6-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Danh Long.

2. Ông Nguyễn Minh Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Trí – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại Phân trại số 3, Trại giam Q, Cục C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 164/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2024/HSST-QĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2024/HSST-QĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 05a/2024/HSST-QĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2024/HSST-QĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2024/HSST-QĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với:

1. Bị cáo: HOÀNG VĂN MINH – Sinh ngày: 16-4-2006 tại xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Sán Dìu; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Hoàng Văn M – Sinh năm: 1979; Con bà: Nguyễn Thị L – Sinh năm: 1980; Vợ, con: Không.

Tiền án: Bị cáo Hoàng Văn M1 bị xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 42/2022/HS-ST ngày 26-9-2022 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo chưa chấp hành xong Bản án.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Bị cáo Hoàng Văn M1 bị xử phạt 05 năm 01 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số: 114/2023/HS-ST ngày 30-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

Bị cáo Hoàng Văn M1 bị bắt ngày 13-7-2023. Hiện đang chấp hành án tại Đội số 45, P, Trại giam Q – Cục C – Bộ C1. Có mặt.

2. Bị cáo: DIỆP VĂN HƯNG – Sinh ngày: 16-8-2006 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Sán Dìu; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Diệp Văn H – Sinh năm: 1982; Con bà: Nguyễn Thị V - Sinh năm: 1980; Vợ, con: Không.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Bị cáo Diệp Văn H1 bị xử phạt vi phạm hành chính hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 18/QĐ-XPHC ngày 02-8-2022 của Trưởng Công an huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Bị cáo Diệp Văn H1 bị xử phạt 04 năm 10 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số: 114/2023/HS-ST ngày 30-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

Bị cáo Diệp Văn H1 bị bắt ngày 13-7-2023. Hiện đang chấp hành án tại Đội 44, P, Trại giam T – Cục C – Bộ C1. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn M1 và bị cáo Diệp Văn H1: Ông Hoàng Văn V1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

Bị hại: Chị Sầm Thúy N – Sinh ngày: 18/8/2009. Người đại diện theo pháp luật của cháu Sầm Thúy N: Ông Sầm Văn Đ – Sinh năm: 1979; Chị N và ông Đ cùng trú tại địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Chị N và ông Đ vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Dương Văn N1 – Sinh ngày: 02/11/2008. Người đại diện theo pháp luật của anh Dương Văn N1: Bà Dương Thị K – Sinh năm: 1987; Anh N1 và bà K cùng trú tại địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Anh N1 và bà K vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bà Hoàng Thị K1 – Sinh năm: 1973; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 17-6-2023, anh Dương Văn N1 - Sinh ngày: 02-11-2008 (14 tuổi 07 tháng 15 ngày) đi bộ trên đường ĐT186 thuộc thôn A, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang thì gặp bị cáo Diệp Văn H1 - Sinh ngày: 16-8-2006 (16 tuổi 10 tháng 01 ngày) và bị cáo Hoàng Văn M1 - Sinh ngày: 16-4-2006 (17 tuổi 02 tháng 01 ngày) đi xe mô tô do bị cáo H1 điều khiển, bị cáo H1 rủ anh N1 đi lên thác nước thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang để tắm, anh N1 đồng ý. Khi đi đến gần thác nước cách khoảng 500m thì xe hết xăng nên bị cáo H1, bị cáo M1 và anh N1 để xe ở lán của người dân rồi cùng nhau đi bộ lên thác nước để tắm.

Khoảng 12 giờ 30 cùng ngày, chị Sầm Thúy N cùng với chị Hoàng Thị Thanh H2 điều khiển xe máy điện màu đỏ đen, không có nhãn hiệu, không có biển số đến dựng ở chân đồi đi lên thác Đ để tắm.

Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, bị cáo H1, bị cáo M1 và anh N1 rủ nhau đi về. Trên đường về, anh N1 rủ bị cáo H1 và bị cáo M1 trộm cắp tài sản nhưng bị cáo H1 và bị cáo M1 không đồng ý, anh N1 bảo bị cáo H1 và bị cáo M1 đi về trước. Sau đó, anh N1 đi đến chỗ chiếc xe máy điện màu đỏ đen của chị N dựng ở chân đồi dùng tay cậy ổ khóa, lấy 02 đầu dây điện ở ổ khóa đấu nối lại rồi điều khiển xe đi về nhà anh N1. Sau đó, bị cáo H1, bị cáo M1 đến nhà anh N1 chơi và được biết chiếc xe máy điện trên là tài sản do anh N1 trộm cắp mà có. Anh N1, bị cáo H1 và bị cáo M1 cùng nhau đem chiếc xe máy điện đến bán cho bà Hoàng Thị K1 được 1.050.000 đồng (khi mua chiếc xe máy điện này, bà K1 không biết chiếc xe là tài sản do trộm cắp được mà có). Số tiền trên, anh N1 chia cho bị cáo M1 320.000 đồng, bị cáo H1 350.000 đồng, anh N1 380.000 đồng.

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, chị N và chị H2 đi xuống khu vực chân đồi thì phát hiện bị mất chiếc xe máy điện. Lúc này, chị H2 nghi ngờ anh N1 là người lấy trộm nên đã dùng tài khoản mạng xã hội Facebook “Thanh Hiền” nhắn tin cho anh N1 dùng tài khoản mạng xã hội Facebook “Nam con”. Anh N1 đã thừa nhận hành vi trộm cắp của mình. Do không thấy anh N1 mang xe đến trả nên chị N đã đến Công an xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang trình báo sự việc.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 68/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 10-7-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, tỉnh Tuyên Quang kết luận: 01 chiếc xe máy điện, màu sơn đỏ đen của Sầm Thúy N tại thời điểm trộm cắp ngày 17/6/2023 trị giá 3.534.000 đồng (Ba triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn đồng).

Tại cáo trạng số: 01/CT-VKSSD ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn M1 và bị cáo Diệp Văn H1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang thực hành quyền công tố, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn M1 và bị cáo Diệp Văn H1. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của các bị cáo cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đề nghị với HĐXX:

Về tội danh:

Tuyên bị cáo Hoàng Văn M1 và bị cáo Diệp Văn H1 phạm tội phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 36; Điều 38; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn M1 từ 09 tháng đến 01 năm tù. Tổng hợp với 21 ngày tù (Bị cáo còn phải chấp hành 02 tháng 03 ngày cải tạo không giam giữ quy đổi thành 21 ngày tù) theo Bản án số: 42/2022/HS-ST ngày 26-9-2022 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Tổng hợp với 05 năm 01 tháng tù theo Bản án số: 114/2023/HS-ST ngày 30-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc bị cáo phải chấp hành tổng hình phạt của cả ba bản án là từ 05 năm 10 tháng 21 ngày tù đến 06 năm 01 tháng 21 ngày tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo Hoàng Văn M1 bị bắt, ngày 13-7-2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Diệp Văn H1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Tổng hợp với 04 năm 10 tháng tù theo Bản án số: 114/2023/HS-ST ngày 30-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc bị cáo phải chấp hành tổng hình phạt của cả hai bản án là từ 05 năm 04 tháng đến 05 năm 07 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo Diệp Văn H1 bị bắt, ngày 13-7-2023.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Hoàng Văn M1 và bị cáo Diệp Văn H1 đã bồi thường xong số tiền 500.000đ cho bị hại chị Sầm Thị N2. Chị N2 không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự nên không đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hoàng Thị K1 không yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự nên không đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết.

Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước khoản tiền do các bị cáo phạm tội mà có.

Số tiền 1.050.000₫.

(Theo Công văn số: 583/CV-CQCSĐT ngày 13-7-2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang.)

Về án phí và quyền kháng cáo:

Theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận tại phiên tòa:

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn M1 là ông Hoàng Văn V1 có quan điểm nhất trí quan điểm truy tố và xét xử đối với bị cáo Hoàng Văn M1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn M1 với mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Người bào chữa cho bị cáo Diệp Văn H1 là ông Hoàng Văn V1 có quan điểm nhất trí quan điểm truy tố và xét xử đối với bị cáo Diệp Văn H1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Diệp Văn H1 với mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Hoàng Văn M1 nhất trí với quan điểm của Người bào chữa cho bị cáo và quan điểm của Kiểm sát viên.

Quyền của bị cáo được nói lời sau cùng:

Bị cáo Hoàng Văn M1 đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo khai phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 17-6-2023 tại thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo Hoàng Văn M1 và bị cáo Diệp Văn H1 có hành vi tiêu thụ chiếc xe máy điện màu đỏ đen, không có nhãn hiệu, biển kiểm soát do anh Dương Văn N1 - Sinh ngày: 02-11-2008 trộm cắp của chị Sầm Thúy N mang bán cho bà Hoàng Thị K1 được 1.050.000 đồng. Giá trị tài sản chiếc xe máy điện màu đỏ đen, không có nhãn hiệu, biển kiểm soát của chị Sầm Thị N2 tại thời điểm trộm cắp là 3.534.000 đồng (Ba triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn đồng).

Bị cáo Hoàng Văn M1 và bị cáo Diệp Văn H1 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản mà các bị cáo biết rõ tài sản tiêu thụ là tài sản do người khác phạm tội mà có với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội; ngoài ra, còn gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Hoàng Văn M1 và bị cáo Diệp Văn H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn M1 và bị cáo Diệp Văn H1 thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; các bị cáo tự nguyện bổi thường cho bị hại; tài sản bị thiệt hại không lớn; ông ngoại của bị cáo Hoàng Văn M1 là ông Nguyễn Văn V2 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng hạng Ba và được Tổ quốc ghi công; ông nội của bị cáo Diệp Văn H1 là ông Diệp Minh Đ1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba; bà nội của bị cáo Diệp Văn H1 là bà Lương Thị P được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất do vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm b, điểm h, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Diệp Văn H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[3] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Hoàng Văn M1 bị xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ, Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo M1 được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang nhận được quyết định thi hành án (ngày 21-11-2022). Ngày 17-6-2023, bị cáo M1 tiếp tục thực hiện hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Diệp Văn H1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy các bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản cá nhân có giá trị, đang phải chấp hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp trật tự an toàn xã hội và gián tiếp quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an ninh xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân tại địa phương nói riêng và xã hội nói chung. Hội đồng xét xử thấy rằng cần lên một mức án nghiêm minh, phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả mà các bị cáo đã gây ra để các bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội, góp phần đảm bảo an ninh trật tự cũng như phòng ngừa tội phạm trong gia đình, cộng đồng và xã hội.

Hội đồng xét xử thấy rằng trong vụ án có vai trò đồng phạm giản đơn tham gia, các bị cáo cùng bàn bạc, thống nhất và cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, vai trò của các bị cáo là ngang bằng nhau.

Đối với đề nghị về mức hình phạt của người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn M1 và bị cáo Diệp Văn H1. HĐXX đánh giá khách quan, toàn diện hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn M1 và bị cáo Diệp Văn H1. HĐXX nhận thấy, mức hình phạt thấp nhất tại khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự chưa phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo M1; Đối với bị cáo H1, mức đề nghị của người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát đã phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo H1. Từ những phân tích trên, không có căn cứ để chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn M1 về mức hình phạt; Chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Diệp Văn H1 về mức hình phạt.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Sầm Thị N2 yêu cầu bị cáo Hoàng Văn M1 và bị cáo Diệp Văn H1 bồi thường tiền công đi tìm xe là 500.000đ. Ngày 28-11-2023, ông Hoàng Văn M (bố đẻ của bị cáo M1) và ông Diệp Văn H (bố đẻ của bị cáo H1) đã bồi thường số tiền 500.000đ cho chị N2. Chị N2 đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hoàng Thị K1 không yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự. Do vậy, HĐXX không xem xét, giải quyết.

[7] Về vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã tạm giữ của bà Hoàng Thị K1 01 chiếc xe máy điện, màu đỏ đen. Quá trình điều tra, xác định được chị Sầm Thị N2 là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe máy điện nói trên. Ngày 28-11-2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã trả lại chiếc xe máy điện cho chị Sầm Thị N2 quản lý, sử dụng. Chị N2 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Đối với 1.050.000₫ do bị cáo Hoàng Văn M1 tự nguyện giao nộp 320.000đ, bị cáo Diệp Văn H1 tự nguyện giao nộp 350.000đ, anh Dương Văn N1 tự nguyện giao nộp 380.000đ. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thừa nhận số tiền nói trên là số tiền bán tài sản trộm cắp được mà có. Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì đối với số tiền đã giao nộp. HĐXX xét thấy, số tiền 1.050.000₫ là số tiền các bị cáo bán tài sản trộm cắp được mà có. Do vậy, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền trên.

[8] Về án phí:

- Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn M1 (Bị cáo Hoàng Văn M1 là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn nộp tiền án phí).

- Bị cáo Diệp Văn H1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

[9] Quyền kháng cáo: Các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

[10] Về hành vi tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp bắt tạm giam với bị can, ra quyết định truy tố; thu thập chứng cứ tài liệu, vật chứng đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[11] Các vấn đề khác:

- Hành vi trộm cắp tài sản của anh Dương Văn N1 - Sinh ngày: 02-11-2008, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội anh N1 mới được 14 năm 07 tháng 15 ngày tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của anh N1 không cấu thành tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã ra quyết định không khởi tố đối với anh Dương Văn N1 về hành vi trộm cắp tài sản.

- Đối với bà Hoàng Thị K1 khi mua chiếc xe máy điện không biết là tài sản do trộm cắp mà có nên không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh và hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 36; Điều 38; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn M1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn M1 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp với 21 (hai mươi mốt) ngày tù (Bị cáo còn phải chấp hành 02 tháng 03 ngày cải tạo không giam giữ quy đổi thành 21 ngày tù) theo Bản án số: 42/2022/HS-ST ngày 26-9-2022 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Tổng hợp với 05 (năm) năm 01 (một) tháng tù theo Bản án số: 114/2023/HS-ST ngày 30-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc bị cáo phải chấp hành tổng hình phạt của cả ba bản án là 05 (năm) năm 10 (mười) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo Hoàng Văn M1 bị bắt, ngày 13-7-2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Diệp Văn H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Xử phạt bị cáo Diệp Văn H1 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với 04 (bốn) năm 10 (mười) tháng tù theo Bản án số: 114/2023/HS-ST ngày 30-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc bị cáo phải chấp hành tổng hình phạt của cả hai bản án là 05 (năm) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo Diệp Văn H1 bị bắt, ngày 13-7-2023.

Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước khoản tiền do các bị cáo phạm tội mà có:

Số tiền 1.050.000₫.

Số tiền trên đã được Kho bạc Nhà nước huyện S, tỉnh Tuyên Quang chuyển từ tài khoản số 3591.0.9047103.00000 (tài khoản tạm gửi của Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang) đến tài khoản số 3949.0.1064844.00000 (tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang).

(Theo Công văn số: 583/CV-CQCSĐT ngày 13-7-2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang.)

Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

- Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn M1.

- Buộc bị cáo Diệp Văn H1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Hoàng Văn M1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 14-6-2024).

Bị cáo Diệp Văn H1; Bị hại chị Sầm Thị N2; Người đại diện theo pháp luật của chị Sầm Thị N2 là ông Sầm Văn Đ; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hoàng Thị K1, anh Dương Văn N1; Người đại diện theo pháp luật của anh Dương Văn N1 là bà Dương Thị K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an huyện Sơn Dương;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Dương;
  • - Lưu hs, hstha, vp.

T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Minh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger