TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HS-ST
Ngày: 14-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Khánh
2. Bà Đoàn Thị Loan
Thư ký phiên toà: Bà Lê Hải Sâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa:Bà Trương Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dânhuyện D, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/TLST - HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 78/2024/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hoàng A. Tên thường gọi khác: Không, sinh ngày 15/12/1995, tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: K, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Dương Đ, sinh năm 1970 và con bà Hoàng Thị T, sinh năm 1972; anh chị em ruột: Có 3 người, bị cáo là con đầu trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 100/2016/HSST, ngày 23/8/2016, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/12/2016 và chấp hành xong phần án phí ngày 23/8/2016.
- Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 105/2018/HSST, ngày11/10/2018, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2020và chấp hành xong phần án phí ngày 11/10/2018.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Nghệ An. (Có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 29/12/2023, Nguyễn Hoàng A đang ở nhà thì nảy sinh ý định sử dụng ma túy. Nguyễn Hoàng A gọi điện thoại cho Q (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) nói “Lấy cho ba đàn ma túy” thì Q trả lời “Giá sáu triệu một đàn” và hẹn ra bờ ao xóm T, xã D, huyện D để giao tiền và lấy ma túy. Sau đó, Hoàng A đi xe taxi đến điểm hẹn, đưa cho Q 18.000.000 đồng, Q cầm tiền và chỉ nơi để ma túy ở cột điện gần bờ ao. Hoàng A đi bộ đến vị trí Q chỉ thì thấy tại vị trí giữa hộp đồng hồ điện và cột điện có 01 (một) bao nilon màu đen, bên trong có chứa 03 (ba) gói nilon màu xanh, bên trong chứa các viên ma túy hồng phiến. Nguyễn Hoàng A cầm gói ma túy rồi bắt xe taxi đi về nhà. Về đến nhà, Hoàng A đi vào phòng ngủ, lấy ra một ít ma túy sử dụng. Số ma túy còn lại, A chia vào 03 gói nilon màu hồng và 02 (Hai) gói nilon màu xanh rồi bỏ toàn bộ vào 01 (Một) bao nilon màu trắng cất vào túi da màu đen để ở dưới gầm giường ngủ của mình. Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 04/01/2024, Nguyễn Hoàng A lấy từ trong 01 (Một) gói nilon màu hồng ra 02 (hai) viên ma túy để sử dụng. Khi Nguyễn Hoàng A đang sử dụng thì bị Công an thị trấn D, huyện D kiểm tra, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và dẫn giải Nguyễn Hoàng A về trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện D để làm việc, sau đó chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D để điều tra theo thẩm quyền.
Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 04/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An và Bản Kết luận giám định số 130/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
- Các mẫu vật (ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5) thu giữ của Nguyễn Hoàng A gửi đến giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine.
- Số viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau thu giữ khi bắt quả tang và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hoàng A có tổng khối lượng là 38,15 gam (Ba mươi tám phẩy mười lăm gam).
Tại bản cáo trạng số: 64/CT-VKS-DC ngày 20/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố Nguyễn Hoàng A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử; căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hoàng A từ 12 (Mười hai) đến 12 (Mười hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy 33,55 gam ma túy Methamphetamine, là vật chứng còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định hết 4,60 gam thu của Nguyễn Hoàng A; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước chiếcđiện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, đã qua sử dụng. Số Imei: 353161119840091 thu của Nguyễn Hoàng A.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì; lời nói sau cùng của bị cáo sau khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, khai nhận hành vi thực hiện của mình phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với nội dung của Cáo trạng đã quy kết, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 04/01/2024, tại nhà của Nguyễn Hoàng A thuộc khối E, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Hoàng A đang có hành vi tàng trữ trái phép 38,15 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" với tình tiết định khung hình phạt là “Methamphetamine có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam” được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội rất lớn; xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội; mặc dù biết ma túy là chất gây nghiện, có tác hại xấu đến sức khỏe của con người, làm băng hoại đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục và gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của bản thân, gia đình và xã hội là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, Nhà nước đã nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Vì thỏa mãn cơn nghiện và thái độ coi thường pháp luật, bị cáo vẫn lao vào con đường phạm tội. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, đồng thời ngăn ngừa tội phạm mới và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình có công với Cách mạng, có ông nội là Liệt sỹ, bố của bị cáo là người thờ cúng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; biên bản xác minh điều kiện kinh tế đối với bị cáo và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo không có công việc, thu nhập thấp, không ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về vật chứng của vụ án: Tổng khối lượng 38,15 gam ma túy Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Hoàng A, Cơ quan điều tra đã lấy 4,60 gam để đi giám định hết, còn lại 33,55 gam Methamphetamine, là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy; 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, đã qua sử dụngthu giữ của Nguyễn Hoàng A, là chiếc điện thoại mà bị cáo A sử dụng vào việc liên lạc đề trao đổi mua ma túy, đây là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
[6]. Về nội dung liên quan khác: Đối với người đàn ông tên Q là người bán ma túy cho Nguyễn Hoàng A (theo lời khai của Anh), do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D không có căn cứ để xác minh, xử lý, khi nào xác minh rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- - Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A1 (Mười) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 04/01/2024.
- Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) phong bì thư niêm phong theo đúng quy định, dán kín, trên mép dán có chữ ký thành phần tham gia niêm phong, bị cáo Nguyễn Hoàng A cùng hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An, bên trong có chứa: 33,55 gam (Ba mươi ba phẩy năm mươi năm gam) các viên ma túy Methamphetamine, ký hiệu từ M1 đến M5; 03 (Ba) vỏ gói nilon màu hồng; 02 (Hai) vỏ gói nilon màu xanh; 01 (Một) túi da màu đen; 01 (Một) bao nilon màu trắng và 02 (Hai) phong bì thư niêm phong ban đầu.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, đã qua sử dụng, số Imei: 353161119840091 thu của Nguyễn Hoàng A.
- Vật chứng hiện đang lưu tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu và phiếu nhập kho ngày 21/3/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thanh Minh |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
