TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án: 58/2024/DS-ST
Ngày: 14-05-2024
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Giúp
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Công Danh
- Bà Phạm Thị Tuyết Nhung
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Chánh Nhật - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Tùng - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 68/2022/TLST-DS ngày 18 tháng 03 năm 2022 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tuấn T, sinh năm 1976; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1960; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964;
- - Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1973;
- - Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1959;
- - Bà Nguyễn Thị Mười M, sinh năm 1979;
- - Bà Nguyễn Thị Trúc P, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
- - Bà Hồ Thị T2, sinh năm 1965 (vợ ông H); Trú quán: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963; Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An (Văn bản ủy quyền ngày 22-11-2023)
Cùng địa chỉ: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền tại Tòa án nội dung vụ án như sau:
Vào năm 2010, lúc cha bà là ông Nguyễn Văn H2 lâm bệnh nặng, biết khó qua khỏi, nên cha bà kêu ông H là con trai ruột và ông L là con rể đi gặp ông C hỏi mua miếng đất để làm nơi chôn cất những người trong gia đình, ông T mới hỏi mượn tiền bà đưa cho ông H đi mua thửa đất 4262 tờ bản đồ số 4 tại xã T. Ông H là anh trai cả trong gia đình nên gia đình đồng ý để cho ông H làm thủ tục đứng tên GCNQSDĐ.
Sau khi được cấp GCNQSDĐ thì ông H về giao giấy đỏ cho bà T1 giữ cho đến nay. Ông T là con út trong gia đình ở chung cha mẹ. Sau khi cha chết thì ông T làm mả mồ và chôn cất cha trên thửa đất đó và dời mộ của mẹ bà về cùng với cha bà. Hiện tại thửa đất trống, có cây tạp tự mộc, lâu lâu ông T cũng đến xem đất chăm sóc mồ mả cha mẹ. Ông T và các anh em thống nhất để thửa đất này làm nghĩa địa để chôn cất gia đình dòng họ nên cũng không có yêu cầu gì mà vẫn để ông H đứng tên. Nay do ông H có ý định chuyển nhượng, ông H đến UBND xã có mất giấy đỏ, các anh em bà phát hiện nên ông T mới khởi kiện đòi lại. Do mục đích nhận chuyển nhượng đất sử dụng chung làm khu nghĩa địa để chôn cất người thân trong gia đình, nay ông T thay đổi yêu cầu khởi kiện, ông T yêu cầu được đứng tên đồng sử dụng thửa đất 4262 để tránh việc ông H chuyển nhượng cho người khác.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày: Quyền sử dụng thửa đất 4262, tờ bản đồ số 04, diện tích 221m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An là tài sản của ông. Ông nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1944, địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An với giá là 136.000.000 đồng vào năm 2010, đến năm 2011 thì ông được cấp GCNQSDĐ. Mục đích mua đất là để sử dụng làm đất chôn cất dòng họ. Để thuận tiện cho việc xin phép chính quyền khi chôn cất người mất nên ông đưa bản chính giấy chứng nhận cho em ruột là bà Nguyễn Thị T1 cất giữ. Hiện nay trên phần đất có 02 mộ của cha mẹ ông, 02 mộ của hai đứa em ông. Ông đồng ý hạn chế quyền sử dụng của ông đối với thửa đất 4262 để ông không được chuyển nhượng, tặng cho, cầm cố, thế chấp mà sử dụng đất làm nghĩa địa chôn cất dòng họ gia tộc, chứ ông không đồng ý để ông T đứng tên đồng sử dụng.
Bà Hồ Thị T2 thống nhất với ý kiến ông H, không trình bày ý kiến gì thêm.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị Mười M, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị Trúc P cùng trình bày: Năm 2010 ông T có mượn tiền của bà T1 để đưa cho ông H mua thửa đất 4262 của ông C1 để gia đình chôn cất người chết. Nay ông T và ông H tranh chấp các bà thống nhất ý kiến cho ông T, không yêu cầu riêng cho bản thân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc nhận xét quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ, đưa ra xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Tại phiên tòa, ông T và ông H thỏa thuận thống nhất thửa đất 4262, tờ bản đồ số 4, đất tại xã T, huyện C là tài sản chung, ông T và ông H cùng sử dụng chung và cả hai được quyền đi kê khai, đăng ký để được cấp GCNQSDĐ đồng sử dụng. Việc thỏa thuận là tự nguyện không trái quy định pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử công nhận
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn ông Nguyễn Tuấn T khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H, bị đơn cư trú tại xã T, huyện C, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An theo khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung án:
[2.1] Năm 2010 ông Nguyễn Văn H có nhận chuyển nhượng thửa đất 4262 tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An và ông H được UBND huyện C cấp GCNQSDĐ số BE 156297 số vào sổ cấp GCN CH 00242 cấp ngày 16/3/2011.
[2.2] Ông T cho rằng tiền chuyển nhượng là do ông mượn của bà T1 để đưa cho ông H trả tiền mua đất của ông C1. Mục đích mua đất để sử dụng chung làm nơi chôn cất người chết trong gia đình, ông H là anh trai cả trong nhà nên để ông H đứng tên giấy chứng nhận. Chính vì vậy mà sau khi nhận GCNQSDĐ về ông H giao lại cho bà Tư giữ. Còn ông H xác định quyền sử dụng thửa đất 4262 là do ông bỏ tiền ra mua nên đó là tài sản của ông.
[2.3] Quá trình xét xử, tranh luận tại phiên tòa thì ông T và ông H thỏa thuận thống nhất xác định thửa đất 4262 là tài sản chung, sử dụng để làm nơi chôn cất người thân trong gia đình, bà T1 đồng ý giao lại bản chính GCNQSDĐ đối với thửa đất 4262 cho ông T và ông H để đăng ký đứng tên đồng sử dụng. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm ông T tự nguyện chịu.
[2.4] Xét thấy việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng Điều 166, 207, 208 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 98, 203 Luật Đất đai năm 2013;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Công nhận sự thỏa thuận của ông Nguyễn Tuấn T và ông Nguyễn Văn H như sau:
Quyền sử dụng thửa đất 4262 tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An là tài sản chung của ông Nguyễn Tuấn T và ông Nguyễn Văn H. Ông Nguyễn Tuấn T và ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ kê khai, đăng ký để được cấp GCNQSDĐ đồng sử dụng.
Buộc bà Nguyễn Thị T1 giao nộp bản chính GCNQSDĐ số BE 156297 số vào sổ cấp GCN CH 00242 do UBND huyện C cấp ngày 16/03/2011 cho ông Nguyễn Văn H đứng tên đối với thửa đất 4262 tờ bản đồ số 4, đất tại xã T, huyện C, tỉnh Long An. Trường hợp bà T1 không giao nộp bản chính GCNQSDĐ nêu trên thì ông T, ông H được quyền yêu cầu và kiến nghị cơ quan nhà nước điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2] Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Tuấn T phải chịu 16.320.000 đồng và đã nộp xong.
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Tuấn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông T nộp tại biên lai số 0013147 ngày 14-03-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc được khấu trừ số tiền án phí, ông T nộp đủ. Hoàn trả cho ông T số tiền tạm ứng án phí 3.750.000 đồng biên lai số 0013146 ngày 14-03-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc.
[4] Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
[5] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Giúp |
Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 58/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thỏa thuận của ông Nguyễn Tuấn T và ông Nguyễn Văn H
