TAND HUYỆN TU TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HS-ST Ngày 13-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đình Cường; Ông Lò Văn Yêu.
- Thư ký phiên toà: Ông Giang Tiến Hiệp - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Trưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn B; giới tính: Nam; sinh ngày 28/6/2002; Nơi sinh: Huyện TU, tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã T, huyện TU, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề N: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lường Văn M, sinh năm 1977 và con bà Hà Thị B, sinh năm 1982; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án án; tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ hồi 18 giờ ngày 27/02/2024, đến ngày 07/3/2024 áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện TU, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 11 giờ ngày 27/02/2024 Lường Văn B đi chơi bị a ở bản P 1, xã T, huyện TU. Khi đang chơi B gặp Lường Văn N, sinh năm 2005 trú tại bản P 1, xã T, huyện TU. Tại đây B rủ N đi chơi, N đồng ý. Sau đó N điều khiển xe mô tô của N chở B đi đến bản K, xã Hố Mít, huyện TU.
Tại bản K, xã Hố Mít, huyện TU, B bảo N chờ ở ngoài để B đi có việc cá nhân, N đồng ý. Sau đó B đi bộ một mình vào trong bản gặp và hỏi mua được 04 gói Heroin trong đó 03 gói mỗi gói được gói bằng một mảnh nilon màu hồng còn 01 gói được gói bằng một mảnh giấy bạc một mặt màu vàng một mặt màu trắng của một người phụ nữ không rõ lai lịch với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được Heroin, B cất giấu cả 4 gói vào túi áo ngực bên trái đang mặc. Sau đó B quay lại chỗ N đang chờ nhưng không nói cho N biết việc B vừa mua và đang cất giấu Heroin. Sau đó N điều khiển xe mô tô chở B đi về. Đến 12 giờ 50 phút cùng ngày khi B và N về đến bản P 1, xã T, huyện TU thì bị công an xã T, huyện TU phát hiện bắt quả tang đối với Lường Văn B về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an thu giữ trong túi áo ngực bên trái đang mặc của B 04 gói Heroin trong đó 03 gói mỗi gói được gói bằng một mảnh nilon màu hồng và 01 gói được gói bằng một mảnh giấy bạc một mặt màu vàng một mặt màu trắng có tổng khối lượng 0,19 gam, mục đích để sử dụng.
Tại Cơ quan điều tra, Lường Văn N khai N chỉ được B rủ đi chơi, việc B mua và tàng trữ Heroin thì N không biết.
Ngày 27/02/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TU đã tiến hành thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 16/KL-TCGĐ ngày 27/02/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lường Văn B có khối lượng là 0,19 gam, đã lấy toàn bộ 0,19 gam chất bột khô, màu trắng gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 262/KL-KTHS ngày 03/3/2024 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 04 (bốn) Mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu từ Mẫu 01 đến Mẫu 04) gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Bản cáo trạng số 28/CT-VKS-TU ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TU đã truy tố bị cáo Lường Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 21/KLĐT ngày 03/4/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện TU và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TU, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 12 giờ 50 phút ngày 27/02/2024, tại bản P 1, xã T, huyện TU, tỉnh Lai Châu, bị cáo Lường Văn B đã có hành vi tàng trữ trái phép 04 gói Heroin có tổng khối lượng 0,19 gam mục đích để sử dụng thì bị Công an xã T, huyện TU phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người có trình độ học vấn thấp (9/12); khi bị công an phát hiện bắt quả tang có xét nghiệm chất ma túy thì bị cáo có sử dụng chất ma túy (dương tính).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa nên nhận thức có phần còn hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề N lao động tự do, nguồn thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Vật chứng thu giữ trong quá trình bắt quả tang gồm: 04 gói Heroin trong đó 03 gói mỗi gói được gói bằng một mảnh nilon màu hồng và 01 gói được gói bằng một mảnh giấy bạc một mặt màu vàng một mặt màu trắng có tổng khối lượng 0,19 gam, đã gửi giám định hết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng còn lại gồm: 03 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng một mặt màu trắng xét thấy cần tịch thu tiêu hủy theo khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc 0,19 gam Heroin, bị cáo khai mua của một người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch ở bản K, xã Hố Mít, huyện TU. Quá trình điều tra, không xác định được người phụ nữ này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Lường Văn N là người có xe mô tô và điều khiển xe mô tô chở Lường Văn B đến bản K, xã Hố Mít, huyện TU. Quá trình điều tra xác định N chỉ được B rủ đi chơi, việc B mua và tàng trữ Heroin thì N không biết, vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với Lường Văn N.
[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/02/2024.
- Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì công văn của Công an huyện TU, tỉnh Lai Châu bên trong đựng 03 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng một mặt màu trắng.
(Tình trạng vật chứng theo B bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 10/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TU với Chi Cục thi hành án dân sự huyện TU)
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 13/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
