Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SỐP CỘP

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày: 12-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tòng Văn Châm.
  2. Ông Lò Văn Dưỡng.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HS ngày 30/8/2024, đối với bị cáo:

Lò Thị O, tên gọi khác: Không, sinh năm 1985; nơi cư trú: Bản K, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Lò Văn H và con bà: Quàng Thị Ó; chồng: Tòng Văn C, con: 02 con, lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh 2006; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 15/7/2024 đến ngày 05/8/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh. Hiện nay đang tại ngoại tại bản Khá Men, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên toà.

- Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Lò Văn N, sinh năm 1981. Trú tại: Bản D, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: Cộng đồng bản Dồm, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La. Người đại diện: Ông Vì Văn T – Bí Thư chi bộ, trưởng bản Dồm, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

2

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Tòng Văn C, sinh năm 1981 (chồng bị cáo). Nơi cư trú: Bản K, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10/2023, Lò Thị O, trú tại bản Khá Men, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La một mình đến khu vực rừng Huổi Pá Ban, thuộc bản Dồm, xã D, huyện S để chặt phá rừng với mục đích để lấy đất làm nương sản xuất. Khi chặt phá, O sử dụng 01 con dao quắm và 01 cái rìu chặt, phá khu rừng trong khoảng thời gian 05 ngày. Đến khoảng tháng 02/2024, O đi một mình đến dọn dẹp, gom các cành cây chặt hạ trước đó đã khô lại với nhau rồi dùng 01 chiếc bật lửa gas để châm lửa đốt, còn phần thân cây Ong chưa đốt để lại khu vực rừng đã chặt phá. Đến tháng 03/2024, O tiến hành trồng cây nông sản là sắn trên diện tích rừng đã chặt phá. Việc chặt, phá cây rừng Ong tự ý thực hiện, không xin phép Chính quyền địa phương hay cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Đến ngày 09/4/2024, tổ công tác của Hạt Kiểm lâm huyện S phối hợp với UBND xã D, Công an xã D và Ban quản lý bản Dồm, xã D, huyện S đi kiểm tra rừng thì phát hiện khu vực rừng Huổi Pá Ban thuộc bản Dồm, xã D, huyện S bị chặt phá. Qua xác minh ban đầu xác định người chặt phá rừng là Lò Thị O. Tổ công tác đã mời Ong về UBND xã D làm việc, O đã thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm của bản thân, tự nguyện giao nộp cho Hạt kiểm lâm huyện S 01 con dao quắm và 01 chiếc rìu là công cụ dùng chặt phá rừng.

Ngày 10/4/2024, Hạt kiểm lâm huyện S đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Cơ quan CSĐT Công an huyện S, UBND xã D và Ban quản lý bản Dồm, xã D tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định: Vị trí khu vực rừng Lò Thị O đã chặt phá theo bản đồ giao đất lâm nghiệp, giao rừng năm 2002 thuộc Tiểu khu G, khoảnh 4, lô b, rừng sản xuất, thuộc bản Dồm, xã D, huyện S. Sử dụng máy GPS GARMIN 78s để đo đạc diện tích rừng bị chặt, phá là 5.197m² với khối lượng lâm sản bị thiệt hại là 132 cây gỗ có đường kính từ 11cm – 29cm với tổng khối lượng 15,350m³ gỗ tròn.

Ngày 22/4/2024, Hạt kiểm lâm huyện S đã trưng cầu giám định số 13/QĐ-HKL đối với Chi cục Kiểm lâm tỉnh S giám định lâm sản và phương pháp đo tính diện tích; loại rừng, trạng thái rừng, chủ rừng do Lò Thị O đã chặt phá.

Tại Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực Lâm nghiệp số: 11-2024/KL/GĐCN, ngày 17/5/2024 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh S, kết luận:

*Phương pháp đo diện tích: Phương pháp thực hiện xác định diện tích

3

rừng bị Lò Thị O chặt phá, đã được nêu trong Biên bản khám nghiệm hiện trường do Hạt Kiểm lâm huyện S phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, UBND xã D và các thành phần có liên quan lập ngày 10/4/2024 là phương pháp xác định diện tích rừng và đất lâm nghiệp được sử dụng trong quản lý nhà nước về lĩnh vực lâm nghiệp theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13458:2021, đúng theo quy định của pháp luật.

* Xác định vị trí khu vực rừng bị chặt phá, loại rừng, trạng thái rừng, chủ rừng: Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 10/4/2024, vị trí rừng bị Lò Thị O chặt phá, theo bản đồ rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018 nằm tại lô 3, khoảnh 4, tiểu khu G, loại rừng: Rừng sản xuất là rừng tự nhiên, trạng thái rừng rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo kiệt - TXK, chủ rừng: Cộng đồng bản Dồm, xã D quản lý bảo vệ; theo hồ sơ giao đất giao rừng giai đoạn 2002-2005.

* Xác định loại gỗ: Đối với các loài cây đã xác định được tên (X, V thuốc) đối chiếu với phụ lục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ; Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ; cũng như bảng phân loại nhóm gỗ các loài này là loài thông thường không nằm trong danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”.

Ngày 27/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 726/YC-HSKTMT đối với Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thuộc Ủy ban nhân dân huyện S, định giá thiệt hại khu vực rừng Lò Thị O đã chặt phá.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 20/KL-HĐĐG ngày 01/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện S kết luận: “Đối với tài sản là rừng bị chặt phá có diện tích 5.197m², thuộc khu H thuộc bản Dồm, xã D, huyện S. Vị trí rừng thuộc tiểu khu G: Là rừng sản xuất, trạng thái rừng TXK bị thiệt hại là 38.878.497 đồng”.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 09/7/2024 ông Vì Văn T - Bí thư chi bộ, trưởng bản Dồm, xã D, huyện S là đại diện nguyên đơn dân sự đề nghị Lò Thị O bồi thường thiệt hại tương ứng với thiệt hại rừng theo Kết luận định giá tài sản, ngoài ra không có đề nghị gì khác. Ngày 05/8/2024, Lò Thị O đã tác động gia đình tự nguyện giao nộp số tiền 8.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp để bồi thường, khắc phục giảm bớt hậu quả.

4

Cáo trạng số: 48/CT-VKSSC ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, truy tố Lò Thị O về tội Huỷ hoại rừng, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

- Bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử là không oan sai.

- Nguyên đơn dân sự ý kiến: Sự việc xảy ra đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu và nhất trí với nội dung của bản cáo trạng, đề nghị bị cáo bồi thường theo Kết luận định giá tài sản là 38.878.497 đồng. Tuy nhiên, do bị cáo hiểu biết pháp luận còn hạn chế, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị cơ quan thẩm quyền xét miễn, giảm khoản tiền này cho bị cáo, ngoài ra không còn yêu cầu gì thêm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tòng Văn C trình bày: Việc Toà án xét xử bị cáo là đúng quy định của pháp luật, ông đã khắc phục cho bị cáo 8.000.000 đồng. Đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, sau khi trình bày luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự.

  • + Tuyên bố bị cáo: Lò Thị O phạm tội: Huỷ hoại rừng.
  • + Đề nghị xử phạt 16 đến 20 tháng Cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giam.
  • + Vật chứng xử lý theo quy định.
  • + Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự và không khấu trừ thu nhập.
  • + Bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo.

- Bị cáo; nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì khác tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an huyện S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan

5

tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định tội danh:

- Khoảng tháng 10/2023, do thiếu đất sản xuất nên Lò Thị O có hành vi sử dụng dao quắm, rìu chặt phá trái phép rừng sản xuất, thuộc lô b, khoảnh 4, tiểu khu G được giao cho cộng đồng bản Dồm, xã D, huyện S quản lý, bảo vệ (theo hồ sơ giao đất giao rừng giai đoạn 2002-2005). Tổng diện tích bị chặt, phá là 5.197m², gây thiệt hại giá trị là 38.878.497 đồng.

- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Từ những phân tích, nhận định nêu trên: Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Lò Thị O đã phạm tội: "Huỷ hoại rừng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự. Như vậy, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi Huỷ hoại rừng của bị cáo là nghiêm trọng, xâm hại đến trật tự quản lý của Nhà nước, xâm phạm sự phát triển bền vững về tài nguyên - môi trường rừng, gây hiểm họa khôn lường đến môi trường sinh thái. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó cần có mức hình phạt đúng mức, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ là (người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bố, mẹ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến; sau khi tội phạm xảy ra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp số tiền 8.000.000 đồng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được pháp luật quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, sau khi tội phạm xảy ra đã tỏ rõ sự ăn năn, hối cải, chấp hành tốt các văn bản tố tụng trước khi xét xử. Do vậy, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương, dưới sự giám

6

sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[5] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án: Đối với 132 khúc, đoạn cây gỗ đã bị Lò Thị O chặt hạ tại hiện trường, do là vật chứng cồng kềnh, khối lượng lớn, khó vận chuyển trên địa hình đồi núi, Cơ quan điều tra Công an huyện S đã bàn giao cho Ban quản lý bản Dồm, xã D, huyện S quản lý, bảo vệ là có căn cứ, đúng pháp luật.

[6] Về bồi thường dân sự: Chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả được 8.000.000 đồng, số còn lại buộc bị cáo phải bồi thường tiếp.

[7] Vật chứng của vụ án còn lại: 01 con dao quắm và 01 chiếc rìu là công cụ phương tiện phạm tội, cần tịch thu tiêu huỷ.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, gia đình hoàn cảnh khó khăn, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền).

[9] Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo không việc làm ổn định, nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[10] Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn, nên vẫn phải chịu án phí theo quy định chung.

[11] Về quan điểm của Kiểm sát viên: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Thị O phạm tội: Huỷ hoại rừng. Xử phạt: Lò Thị O 16 (mười sáu) tháng Cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày (15/7/2024 đến ngày 05/8/2024) là 22 ngày, bằng 66 ngày Cải tạo không giam giữ. Bị cáo phải thi hành tiếp 13 (mười ba) tháng 24 (hai mươi tư) ngày Cải tạo không giam giữ.

Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện S nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo cho UBND xã D, huyện S, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã D trong việc giám sát, giáo dục.

Trường hợp người được bị phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

7

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) con dao quắm dài 44cm và 01 (một) chiếc rìu dài 58cm.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 48 ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát huyện S và biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an sự huyện S, tỉnh Sơn La).

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584, các Điều 585, khoản 1 Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá là 38.878.497 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước. Được khấu trừ: 8.000.000 đồng (tám triệu) đã khắc phục, tại Biên lại thu tiền số 0000750 ngày 05/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Bị cáo Lò Thị O phải bồi thường tiếp: 30.878.497 đồng (ba mươi triệu tám trăm bảy mươi tám nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; án phí dân sự 1.543.000 đồng. Tổng cộng 1.743.000 đồng.

5 Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 12/9/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Sốp Cộp;
  • - THA hình sự; UBND xã Dồm Cang;
  • - CCTHA Dân sự huyện Sốp Cộp;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lường Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về huỷ hoại rừng

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Huỷ hoại rừng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Thị O phạm tội Huỷ hoại rừng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger