|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 58/2024/HS-ST Ngày: 11/6/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Biểu.
Thẩm phán: Ông Trần Ngọc Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Khoa, ông Đỗ Văn Túy và ông Doãn Thế Dương.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Trần Công Luật - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử trực tuyến công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/TLST- HS ngày 15/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST- HS ngày 27/5/2024 đối với các bị cáo:
-
Sùng Chứ S, sinh năm 1973; tại huyện T, tỉnh Sơn La; Hộ khẩu thường trú: bản T, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12; Đảng phái: Đảng viên Đ1 đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 19 tháng 01 năm 2024. Con ông: Sùng C; Con bà: Vừ Thị S1. Gia đình bị cáo có 5 anh, chị, em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Vừ Thị Đ, sinh năm 1973; Bị cáo có 6 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 23/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; (có mặt).
-
Sùng A K, sinh năm 1996; tại huyện T, tỉnh Sơn La; Hộ khẩu thường trú: bản T, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12; Con ông: Sùng Ga N; Con bà: Giàng Thị S2. Gia đình bị cáo có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Và Thị C, sinh năm 1996; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 23/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; (có mặt).
* Người bào chữa:
- Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý cho các bị cáo: Ông Hoàng Văn T - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H, (có mặt).
- Luật sư bào chữa cho các bị cáo: Luật sư Nguyễn Hữu Tiến A - Luật sư Văn phòng L, (có mặt).
* Người chứng kiến:
Ông Lê Đức V, sinh năm 1957. Trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
Anh Chu Văn T1, sinh năm 1991. Trú tại: thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
Anh Lò Văn C1, sinh năm 1988. Trú tại: bản C, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. (Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 20 phút ngày 23/12/2023, tại khu vực cầu vượt quốc lộ E thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H bắt quả tang Sùng A K và Sùng Chứ S đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán cho người khác. Vật chứng thu giữ: Tại túi quần phía trước bên phải của K có 01 gói nilon màu đen trong có chứa các cục và bột màu trắng (niêm phong ký hiệu MT1), tại túi quần phía trước bên trái của K 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME màu ghi xám; thu giữ của Sếnh 01 điện thoại Vsmart màu xanh đen, 01 ví giả da màu nâu bên trong có 500.000 đồng; 01 Giấy phép lái xe; 01 căn cước công dân đều mang tên Sùng Chứ S; 01 xe mô tô biển số 26B1-302.74; 01 đăng ký xe. Kiểm tra xe mô tô biển số 26B1-302.74, không phát hiện thu giữ, đồ vật, tài sản gì. Qua đấu tranh, K và S khai gói nilon bị thu giữ là H, K và S mang theo bán cho người nghiện ma túy để kiếm lời. Ngoài ra K và S khai nhận còn cất giấu ma túy tại phòng trọ nhà ông Lê Đức V.
Khám xét khẩn cấp phòng trọ của K và S tại khu nhà trọ nhà ông Lê Đức V sinh năm 1957 ở thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên, thu giữ: 01 gói nilon màu đen bên trong có: 01 gói nilon màu hồng trong chứa các cục và bột màu trắng; 01 cục chất bột màu trắng bên ngoài được bọc nhiều lớp nilon, giấy có kích thước khoảng (10x6,5x2)cm. Niêm phong ký hiệu MT2; 01 cân tiểu ly; 01 con dao dài 26cm.
Tại Bản kết luận giám định số 107/KL-KTHS(MT) ngày 23/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận:
- Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu MT1, có khối lượng: 0,938 gam, là ma túy, loại Heroine (H).
- Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu MT2, có tổng khối lượng: 187,960 gam là ma túy, loại Heroine (H).
H1 lại mẫu giám định niêm phong trong một phong bì ghi số: 107/KL-KTHS(MT) bên trong chứa: 0,922g ma túy, loại Heroine (H), trong niêm phong ký hiệu MT1; 187,648g ma túy, loại Heroine (H), trong niêm phong ký hiệu MT2; các mảnh nilon và các mảnh giấy gói ma túy và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Quá trình điều tra Sùng A K và Sùng Chứ S khai nhận: Sùng A K sinh năm 1996 và Sùng C sinh năm 1973, cùng có hộ khẩu thường trú: Bản T, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La, có quan hệ họ hàng, cùng đi làm thuê ở huyện V và huyện V tỉnh Hưng Yên. Sùng Chứ Sếnh thuê phòng ở trọ tại nhà ông Lê Đức V sinh năm 1957 tại thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Sùng Chứ S và Sùng A K đã bàn bạc, thỏa thuận, thống nhất với nhau về việc K sẽ tìm mua và mang ma túy loại Heroin về Hưng Yên, sau đó S và K cùng phân chia ma túy để bán lẻ cho những người nghiện ma túy nhằm kiếm lời. Khoảng 20 giờ 00 ngày 21/12/2023, K đã mua ma túy, loại heroin của một người đàn ông ở tỉnh Điện Biên (Khứ không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể), với số tiền 60.000.000 đồng (Khứ nợ tiền khi nào bán được ma túy sẽ trả tiền sau). Khoảng 20 giờ ngày 22/12/2023, K bắt xe khách xuống tỉnh Hưng Yên, đến khoảng 04 giờ ngày 23/12/2023, khi đi đến khu vực cầu vượt quốc lộ E xã T, huyện V, K điện thoại cho S3 Chứ Sênh ra đón rồi cùng nhau về phòng trọ của S tại nhà ông Lê Đức V, trong phòng trọ K đã đưa cho S số ma túy bọc trong nilon màu đen, S đã mở ra xem rồi bọc lại xong cất dưới gầm giường rồi S và K đi ngủ. Đến khoảng 10 giờ 40 phút ngày 23/12/2023, S đã lấy ma túy từ trong gầm giường rồi lấy dao cắt ma túy ra thành một cục và gói vào nilon màu đen, S đưa cho K cầm rồi S lấy xe mô tô biển số 26B1-302.74 chở K xuống cầu vượt quốc lộ E thuộc thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên để bán ma túy cho người khác đã bị Công an tỉnh H phát hiện, bắt quả tang.
Ngoài ra Sùng A K và Sùng Chứ S còn khai nhận, khoảng tháng 11/2023 K và S đã mua ma túy của người đàn ông ở trên tỉnh Điện Biên (K không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể), với số tiền là 3.000.000 đồng, sau đó cả hai đã bán tại địa bàn huyện V, tinh H. Tuy nhiên, chỉ có lời khai của K và S mà không có tài liệu chứng cứ để chứng minh nên chưa có căn cứ để xử lý.
Đối với người đã bán ma túy cho K và người mua ma túy của S và Khứ quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Tại Cơ quan điều tra Sùng A K và Sùng Chứ S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng;
- Số tiền 500.000 đồng đang được tạm gửi trong tài khoản tạm gửi của Cơ quan CSĐT tại Kho bạc Nhà nước tỉnh H.
-
Các vật chứng, đồ vật hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh H gồm:
- - 01 phong bì số 107/KL- KTHS(MT) của Phòng K1 Công an tỉnh H hoàn trả mẫu vật sau giám định;
- - 02 điện thoại di động;
- - 01 Giấy phép lái xe; 01 căn cước công dân mang tên Sùng Chứ S; 01 đăng ký xe mô tô; 01 ví giả da màu nâu và chiếc xe mô tô 26B1-302.74.
Cáo trạng số: 47/CT-VKS-P1 ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Sùng Chứ S và Sùng A K về tội “Mua, bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa
Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Sùng Chứ Sếnh và Sùng A K phạm tội “Mua, bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Sùng Chứ S và Sùng A K.
- Xử phạt bị cáo Sùng Chứ S 20 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023. Xử phạt bị cáo Sùng A K từ 20 năm tù thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư bào chữa của các bị cáo, sau khi phân tích, đánh giá hành vi, nguyên nhân phạm tội, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo mức án thấp nhất.
Các bị cáo đều không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không bổ sung luận cứ bào chữa và các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Lời khai của người chứng kiến; Biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản ảnh vật chứng; Kết luận giám định số 107/KL-KTHS(MT) ngày 23/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh H cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 23/12/2023, tại khu vực cầu vượt quốc lộ E thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Sùng Chứ S cùng với Sùng A K mang 0,938 gam ma túy, loại Heroine để bán trái phép cho người khác, đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra bắt quả tang. Ngoài ra cùng thời điểm trên khám xét khẩn cấp tại phòng trọ của S3 Chứ Sếnh ở thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên Sùng Chứ Sếnh và Sùng A K còn tàng trữ 187,960 gam ma túy, loại Heroine nhằm để bán trái phép cho người khác. Tổng số ma túy S3 Chứ S và Sùng A K tàng trữ để bán trái phép cho người khác là 188,898 gam ma túy, loại Heroine.
Các bị cáo Sùng Chứ S và Sùng A K đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 Bộ luật Hình sự. Với khối lượng ma túy các bị cáo mua bán là 188,898 gam ma túy, loại Heroine nên các bị cáo Sùng Chứ S và Sùng A K phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là “Heroine, ... có khối lượng 100 gam trở lên”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố các bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng; xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện; gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương; là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh, xử phạt các bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo và làm bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình và các bị cáo có đơn trình bày điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn và xin giảm nhẹ hình phạt đơn có xác nhận của chính quyền địa phương, trong quá trình còn làm việc tại chi bộ bản Tư Làng bị cáo S được bí thư chi bộ tặng thưởng Giấy khen, Gia đình bị cáo có người thân tham gia Dân công hỏa tuyến đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được hưởng theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về Đặc điểm nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[5]. Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử, xét thấy cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
* Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, không có thu nhập và việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[6]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp:
- 01 hộp niêm phong số 107/KL- KTHS(MT) của Phòng K1 Công an tỉnh H hoàn trả mẫu vật sau giám định có bốn chữ ký và bốn dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh H; Các mảnh nilon và các mảnh giấy gói ma túy; 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 cân điện tử màu đen trên có chữ GHL POCKET SCALE; 01 con dao dài 26cm, chuôi dao màu đen, lưỡi dao dài 17cm là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại Vsmart màu xanh đen thu giữ của bị cáo S, bị cáo dùng vào việc liên lạc giao dịch bán ma túy, nên tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 500.000 đồng đang được tạm gửi trong tài khoản tạm gửi của Cơ quan CSĐT tại Kho bạc Nhà nước tỉnh H; 01 Giấy phép lái xe, 01 căn cước công dân mang tên Sùng Chứ S; 01 đăng ký xe mô tô; 01 ví giả da màu nâu và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát: 26B1-302.74 là tài sản riêng của bị cáo S không liên quan tội phạm nên trả lại cho bị cáo S.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME màu ghi xám, thu giữ của bị cáo Sùng A K không liên quan tội phạm nên trả lại cho bị cáo;
[7]. Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tội danh và hình phạt:
- - Căn cứ: điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- - Tuyên bố: Các bị cáo Sùng Chứ S, Sùng A K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- - Xử phạt.
- + Bị cáo Sùng Chứ Sếnh 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.
- + Bị cáo Sùng A K 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.
-
Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 hộp niêm phong số 107/KL- KTHS(MT) của Phòng K1 Công an tỉnh H hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong chứa 0,922g ma túy trong niêm phong ghi ký hiệu MT1 và 187,648 gam ma túy trong niêm phong ghi ký hiệu MT2; Các mảnh nilon và các mảnh giấy gói ma túy; 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 cân điện tử màu đen trên có chữ GHL POCKET SCALE; 01 con dao dài 26cm, chuôi dao màu đen, lưỡi dao dài 17cm.
- - Tịch thu, phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Vsmart màu xanh đen, thu giữ của bị cáo Sùng Chứ S.
- - Trả lại cho bị cáo Sùng Chứ S: 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) đang được tạm gửi trong tài khoản tạm gửi của Cơ quan CSĐT tại Kho bạc Nhà nước tỉnh H; 01 Giấy phép lái xe; 01 căn cước công dân mang tên Sùng Chứ S; 01 đăng ký xe mô tô; 01 ví giả da màu nâu và chiếc xe mô tô màu trắng, đỏ, đen biển kiểm soát 26B1-302.74.
- - Trả lại cho bị cáo Sùng A K 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME màu ghi xám.
- (Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/ 4/2024 giữa Công an tỉnh và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).
- Về án phí: Các bị cáo Sùng Chứ S và Sùng A K không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Biểu |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sùng Chứ S và đồng phạm - Mua bán trái phép chất ma túy
