|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2024/HS-ST Ngày 10/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thúy, giáo viên nghỉ hưu và bà Nguyễn Thị Phương Minh, cán bộ hội chữ thập đỏ.
Thư ký Tòa án: Ông Trần Khoa Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Đỗ Minh T, sinh ngày 06/11/2006 tại Hải Dương. Nơi thường trú và cư trú: thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp Lao động tự do; trình độ văn hóa 5/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Đỗ Huy T1 và bà Nguyễn Thị T2; bị cáo chưa có vợ; gia đình có 4 chị em, bị cáo là con thứ 2.
Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 13/6/2024 tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Đỗ Huy T1, Địa chỉ: thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị S - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (có mặt).
Đại diện tổ chức chính trị xã hội: Đoàn thanh niên xã N: Bà Lê Thị Hồng V- Chức vụ Bí thư Đoàn TNCSHCM xã N (vắng mặt).
1
Người có nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Minh C, sinh ngày 25/8/2008; Người đại diện hợp pháp của anh C: Bà Đỗ Thị S1, Địa chỉ: khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
Bị hại: Anh Nguyễn Đình L, sinh ngày 01/12/2007, Người đại diện hợp pháp của anh L: anh Nguyễn Văn P, địa chỉ: thôn Q, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương. Anh Trần Đại L1, sinh ngày 21/12/2007, Người đại diện hợp pháp của anh L1: anh Trần Duy Q, địa chỉ G Hồ T, phường T, thành phố H (đều có đơn vắng xin vắng mặt).
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Anh Nguyễn Minh Q1, sinh ngày 16/8/2007, Người đại diện hợp pháp của anh Q1: bà Vũ Thị H. Chị Phạm Thị H1, sinh ngày 18/11/2007, Người đại diện hợp pháp của chị H1: bà Trần Thị D. Anh Phạm Đức H2, sinh ngày 21/11/2009, Người đại diện hợp pháp của anh H2: chị Lê Thị Vĩnh. Chị Phạm Thị Thu H3, sinh năm 2000. Anh Nguyễn Kim Thành T3, sinh ngày 09/01/2009, Người đại diện hợp pháp của anh T3: chị Nông Thị T4. (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại các phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Minh T và Vũ Minh C (là người dưới 16 tuổi), cùng trú tại thị trấn N, huyện N. Chiều ngày 04/6/2024, T và C đi chơi cùng Nguyễn Kim Thành T3 - sinh ngày 09/01/2009, trú tại huyện N. Trên đường đi, biết T3 có thanh kiếm nên C hỏi mượn mục đích để tối T và C đi chơi sẽ mang theo. Sau đó, T3 về nhà lấy 01 thanh kiếm có chiều dài 60cm, chuôi gỗ, lưỡi bằng kim loại đưa cho C. Khoảng 22 giờ cùng ngày, T rủ C đi sang khu vực thành phố H chơi. C đồng ý và điều khiển xe Honda Wave, màu tím than, không đeo biển số (xe mượn của anh Phạm Đức H2- sinh ngày 21/11/2009, trú tại huyện N) chở T, thanh kiếm dắt ở bàn để chân bên phải của xe máy. T và C chơi ở thành phố H đến khoảng 24 giờ cùng ngày, thì rủ nhau đi thuê nhà nghỉ để ngủ, nhưng do không có tiền nên T nảy sinh ý định tìm người đi đường để xin tiền hoặc lấy tài sản đem bán lấy tiền và rủ C thì C đồng ý. Cả hai bàn bạc, thống nhất với nhau: chỉ lấy của những người bằng tầm tuổi hoặc ít tuổi hơn, không lấy của con gái và người già, nếu không xin được tiền mà có điện thoại thì không cướp giật, còn nếu mượn được điện thoại phải hỏi mật khẩu điện thoại, mật khẩu tài khoản icloud để khi lấy được đem đi bán sẽ được giá cao. Sau đó, C chở T đi theo hướng cầu Lộ Cương về xã T, huyện G. Khi đi đến đoạn đường khu vực cánh đồng thuộc thôn V, xã T, T và C nhìn thấy anh Trần Đại L1 - sinh ngày 21/12/2007, trú tại thành phố H điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave màu trắng đi ngược chiều. Thấy L1 đi ngang qua, T nói với C là: "có lấy không", thì C
2
bảo: "Cứ lên đi xem thử đã" rồi C điều khiển xe quay lại. Khi C điều khiển xe đi song song bên trái xe của anh L1 thì C có hỏi xin thuốc lá thì anh L1 trả lời không có. Thấy túi quần anh L1 dày cộm lên thì C hỏi anh L1: “có P1 (thuốc lá điện tử) không”?, anh L1 bảo: “không có”, rồi lấy điện thoại của mình ra cầm ở tay. Lúc này, anh L1 nhìn thấy thanh kiếm được dắt ở bàn để chân bên phải xe máy của C thì lo sợ về việc sẽ bị đánh, đe dọa nên anh L1 đã gọi điện thoại cho bạn gái là chị Phạm Thị H1 - sinh ngày 18/11/2007 trú tại xã T qua ứng dụng Messenger để nói chuyện, mục đích để cho C và T thấy anh L1 đang nói chuyện điện thoại với bạn thì sẽ không dám làm gì. Sau đó, C vờ hỏi mượn điện thoại của anh L1 để liên lạc với bạn, mục đích để chiếm đoạt. C và anh L1 dừng xe, anh L1 lo sợ nên đã đưa chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ, lắp sim số 0868.525.699 cho C. C cầm và đăng nhập tài khoản Facebook không được, thì bảo anh L1 đăng xuất tài khoản icloud nhưng anh L1 không làm. Khi chị H1 thấy có cuộc gọi của anh L1 nhưng không thấy anh L1 nói gì mà kết thúc cuộc gọi. Chị H1 đã gọi lại nhưng không thấy anh L1 nghe máy. Chị H1 xem định vị trên điện thoại nên biết vị trí của anh L1, đã đi xe đạp điện ra vị trí định vị tìm thấy anh L1 đang đứng cùng với T và C. Chị H1 đi đến, dựng xe đạp điện chặn trước đầu xe máy của C và T. Lúc này, C bảo điện thoại của anh L1 bị "đơ, chậm", thì chị H1 bảo dùng điện thoại của chị H1 rồi tự nguyện đưa điện thoại cho C. Sau đó, C trả điện thoại cho anh L1 rồi sử dụng điện thoại của chị H1 và tiếp tục thoát tài khoản Facebook của chị H1 ra và đăng nhập tài khoản của C trên ứng dụng Messenger thì đăng nhập được. Do trước đó T, C đã bàn bạc không lấy tài sản của con gái nên T bảo C trả điện thoại cho chị H1 rồi lái xe chở C đi về hướng xã L, thành phố H, còn anh L1 và chị H1 đi về nhà.
Khoảng 00 giờ 30 ngày 05/6/2024, T và C đi đến đoạn đường thôn T, xã L phát hiện thấy anh Nguyễn Minh Q1 sinh ngày 16/8/2007 và anh Nguyễn Đình L sinh ngày 01/12/2007 đều trú tại thôn Q, xã T đang đi trên 02 xe đạp điện ngược chiều thì C lái xe vòng lại đi theo sau. Khi đến đoạn đường thôn V, xã T, C điều khiển xe vượt qua xe của Q1 và L rồi dừng lại. T xuống xe lấy thanh kiếm đang để ở cạnh xe cầm ở tay phải và đứng ở đường để chặn xe của L, Q1 đang đi đến mục đích để uy hiếp, chứ không có ý định đánh, gây thương tích. Còn C lái xe vòng quay lại dựng ở đường. Thấy vậy, anh Q1 và anh L đi chậm và dừng lại, T đứng ở đầu xe của anh Q1, tay trái đặt lên đầu xe đạp điện, tay phải cầm kiếm để dọc theo người. T hỏi anh Q1 có tiền không, cho vay mấy chục và hỏi anh Q1 có điện thoại không để mượn gọi cho bạn, do anh Q1 không có tiền và điện thoại nên nói với T là không có tiền, điện thoại. T tiếp tục quay sang vờ hỏi mượn điện thoại của anh L để gọi cho bạn, mục đích để chiếm đoạt thì anh L nói không còn tiền điện thoại đồng thời mở khóa màn hình chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus đang cầm ở tay, kiểm tra tài khoản trong điện thoại còn 600 đồng và đưa ra cho C xem. C hỏi anh L: “dùng sim gì” L trả lời: “dùng sim V1”. C bảo: "tao có cách". Anh L hiểu ý C muốn thao tác gửi tin
3
nhắn ứng tiền trên điện thoại nên nói: "để em làm cho" thì C nói: "đưa tao làm". Sau khi anh L đưa chiếc điện thoại cho C thì C soạn tin nhắn ứng số tiền 20.000 đồng và đăng ký gói mạng Internet 10.000 đồng, đăng nhập tài khoản Facebook của C trên ứng dụng Messenger nhưng không được. C đưa lại điện thoại cho T để đăng nhập tài khoản của T nhưng vẫn không được. Lúc này, thấy có 01 xe ô tô đi từ hướng xã L đến dừng lại nên T vứt thanh kiếm xuống đám cỏ ở rìa đường rồi lên xe máy cầm lái, C cầm chiếc điện thoại của anh L ngồi lên sau xe, T chở đi về hướng xã L. Khi lên xe đi, C có quay lại nói về phía anh L: "đợi anh tý". T lái xe chở C đi đến đầu thôn T rẽ phải vào khu dân cư mới. Tại đây, thấy điện thoại đã bị khóa màn hình, không tiếp tục sử dụng được nên C và T bảo nhau quay lại gặp anh L để hỏi mật khẩu khóa màn hình và tài khoản icloud đang được đăng nhập trên điện thoại để mang bán sẽ được giá cao. Sau khi C và T bỏ đi, anh Q1 đi xe đạp điện của mình về nhà, còn anh L vẫn đứng ở đường đợi và nhặt thanh kiếm T vứt lại để ở chỗ để chân của xe đạp điện của mình.
Khoảng hơn 10 phút sau, T và C quay lại chỗ anh L lấy lại thanh kiếm giắt vào chỗ để chân của xe máy. Sau đó, C hỏi anh L mật khẩu điện thoại và mật khẩu tài khoản icloud rồi mở cài đặt mật khẩu màn hình điện thoại, đăng xuất luôn tài khoản icloud của anh L xong thì C chở T đi về và mang cất giấu thanh kiếm ở thị trấn N, trên đường đi Chiến tháo thẻ sim điện thoại của anh L vứt đi. Đến chiều ngày 05/6/2024, C và T đã mang thanh kiếm trả lại cho anh T3, trả xe máy cho anh H2. Ngày 06/6/2024 và ngày 07/6/2024, anh L và chị H1 đã có đơn trình báo vụ việc đến cơ quan CSĐT Công an huyện G. Quá trình làm việc, C đã tự giao nộp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, vỏ ngoài ốp nhựa màu xanh có họa tiết hoa văn và chữ LV màu trắng, viền ốp nhựa màu đen mà C, T đã chiếm đoạt được của Nguyễn Đình L.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 15/KLĐG-HĐ ngày 10/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện G kết luận:
- - 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen của Nguyễn Đình L có trị giá là 2.250.000 đồng; giá trị chiếc ốp nhựa của chiếc điện thoại là 20.000 đồng; sim Viettel số 0374.593.xxx có trị giá là 100.000 đồng. Tổng trị giá là 2.370.000 đồng.
- - 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 (bản lock), màu đỏ của Trần Đại L1 có trị giá là 3.750.000 đồng; sim Viettel số 0868.525.xxx có trị giá là 100.000 đồng. Tổng giá trị là 3.850.000 đồng.
4
Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 13/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Đỗ Minh T về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Minh T thừa nhận và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khẳng định khi thực hiện hành vi dùng kiếm cài vào thân xe và dùng kiếm chặn đường bị hại làm cho các bị hai sợ hãi để giao tài sản cho bị cáo. Bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố là đúng, bị cáo không khiếu nại kết luận định giá.
Người bào chữa cho bị cáo: Khi thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản, bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên không nhận thức được hết tính nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của mình gây ra. Bị cáo thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản một cách bồng bột, thiếu suy nghĩ. Sau khi sự việc xảy ra, nhận thức được việc làm vi phạm pháp luật của bị cáo; tài sản đã trả lại cho các bị hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được mức án nhẹ nhất đẻ bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc hực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh T phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”; Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm g, o khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 90; khoản 1 Điều 91; Khoản 2 Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Minh T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời gian tính từ ngày 07/6/2024. Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu cho tiêu hủy 01 thanh kiếm dài 60cm, lưỡi kiếm bằng kim loại màu trắng dài 40cm, rộng 04cm, mũi kiếm nhọn, chuôi bằng gỗ màu đen dài 20cm, trên chuôi có gắn 03 đai kim loại màu vàng. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm hình sự.
Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí về tội danh, điều luật như đại diện Viện kiểm sát nêu. Bị cáo là người dưới 18 tuổi, suy nghĩ và nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế, chưa nhận thức hết được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, khi thực hiện hành vi bản thân bị cáo thiếu kiểm soát, nông nổi và bột phát. Bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51; Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.
5
Quan điểm của Đoàn Thanh niên xã N: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên chưa nhận thức hết được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, do vậy đề nghị HĐXX xem xét áp dụng các quy định của người chưa thành niên phạm tội để xem xét cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và hành vi tố tụng của người bào chữa cho bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và hành vi của người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
Người tham gia tố tụng: Tại phiên toà bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại, người liên quan, người làm chứng có đơn và vắng mặt. Xét thấy, những người này trước đó đã có lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện G nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan; kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Tối ngày 04/6/2024, do không có tiền tiêu sài nên Đỗ Minh T đã rủ Vũ Minh C (là người dưới 16 tuổi) đem theo 01 thanh kiếm mục đích để uy hiếp tinh thần khi gặp người đi đường nhằm chiếm đoạt tài sản đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 24 giờ ngày 04/6/2024, tại đoạn đường thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương; Đỗ Minh T và Vũ Minh C đã có hành vi uy hiếp tinh thần anh Trần Đại L1 vờ hỏi mượn để chiếm đoạt của anh L1 01 chiếc điện thoại Iphone 11, lắp sim số 0868.525699 có trị giá là 3.850.000 đồng. Sau khi lấy được chiếc điện thoại của anh L1, do không mở để đăng xuất được tài khoản icloud và có sự xuất hiện của chị H1 nên đã trả chiếc điện thoại cho anh L1. Tiếp đến khoảng 00 giờ 30 ngày 05/6/2024, cũng tại đường T, Đỗ Minh T và Vũ Minh C đã uy hiếp tinh thần anh Nguyễn Đình L vờ hỏi mượn điện thoại sau đó đã chiếm đoạt của anh L 01 chiếc điện thoại Iphone 7 Plus, lắp sim số 0374.593.369 có trị giá là 2.370.000 đồng. Với hành vi đe dọa nêu trên của bị cáo Đỗ Minh T được xác định là dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản của các bị hại.
6
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản, xâm phạm tới nhân thân của các bị hại là các khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây hoang mang lo lắng trong cộng đồng dân cư, gây mất an ninh, an toàn xã hội. Do đó, cần phải xử lý bị cáo nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi đối anh L và anh L1 đều trên 16 tuổi. Bị cáo Đỗ Minh T thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng khi đã trên 17 tuổi nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 12 của Bộ luật hình sự. Hành vi đem theo hung khí là thanh kiếm đe dọa dùng vũ lực để chiếm đoạt của anh Trần Đại L1 chiếc điện thoại trị giá 3.850.000đ và chiếc điện thoại của anh Nguyễn Đình L trị giá 2.370.000đ, tuy nhiên T đã trả lại chiếc điện thoại cho anh L1 do có sự xuất hiện của chị Phạm Thị H1, việc xuất hiện của chị H1 là ngoài ý muốn của T, bị cáo buộc phải nhận thức rõ hành vi dùng vũ lực đe dọa để các bị hại đưa tài sản cho bị cáo là hành vi trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố bị cáo về tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo 2 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đối với anh L1 và anh L, trong quá thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã xúi giục Vũ Minh C là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định điểm g, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. HĐXX xét thấy: Bị cáo phạm tội đang ở độ tuổi chưa thành niên, nhận thức còn hạn chế do đó HĐXX áp dụng các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại các Điều 90, 91, 98, 101 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 6 Điều 91 của Bộ luật hình sự.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Đối với 2 chiếc điện thoại của anh L1 và anh L cơ quan điều tra đã được trả lại cho người bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại. Người bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu bị
7
cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo phải bồi thường khoản nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[9] Về xử lý vật chứng:
Ngày 13/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã trả lại cho Nguyễn Đình L 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus, anh L không yêu cầu bồi thường về chiếc thẻ sim.
Đối với 01 thanh kiếm dài 60cm, lưỡi kiếm bằng kim loại màu trắng dài 40cm, rộng 04cm, mũi kiếm nhọn, chuôi bằng gỗ màu đen dài 20cm, trên chuôi có gắn 03 đai kim loại màu vàng là công cụ, phương tiện phạm nên cần tịch thu cho hủy bỏ.
[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Các vấn đề khác: Đối với Vũ Minh C, tại thời điểm thực hiện hành vi C là người dưới 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngày 31/7/2024, Cơ quan điều tra đã có công văn chuyển hồ sơ vi phạm của Vũ Minh C đến Công an huyện G để đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định.
Anh Nguyễn Kim Thành T3 đã cho T, C mượn 01 thanh kiếm nhưng không biết T, C sử dụng để phạm tội nên đặt ra xử lý. Hành vi tàng trữ 01 thanh kiếm của Nguyễn Kim T5 Trung xảy ra tại huyện N, nên ngày 31/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã có Công văn chuyển hành vi vi phạm hành chính của Nguyễn Kim Thành T3 cho Công an huyện N để xử lý theo quy định.
Chiếc xe Honda Wave mà T, C đã mượn của anh Phạm Đức H2. Chủ sở hữu chiếc xe là chị Phạm Thị Thu H3 - sinh năm 2000 trú tại khu N, thị trấn N. Anh H2 và chị H3 không biết việc T, C sử dụng vào việc phạm tội nên không ra xử lý.
Chiếc sim điện thoại mà C đã vứt đi, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không quản lý được.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm g, o khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 90; khoản 1 Điều 91; Khoản 2 Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điểm a Khoản 1 và Khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c Khoản 2 và Khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
8
- Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Minh T 01 (một năm) 03 (ba) tháng tù, thời gian tính từ ngày 07/6/2024.
- Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 thanh kiếm dài 60cm, lưỡi kiếm bằng kim loại màu trắng dài 40cm, rộng 04cm, mũi kiếm nhọn, chuôi bằng gỗ màu đen dài 20cm, trên chuôi có gắn 03 đai kim loại màu vàng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2024)
- Bị cáo Đỗ Minh T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án; người liên quan vắng mặt, người đại diện của người liên quan được quyền kháng cáo về phần có liên quan đến quyền lợi của mình; thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thắm |
9
10
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cưỡng đoạt tài sản
