|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH ————— |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————— |
Bản án số: 58/2024/HS-ST
Ngày 10/05/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Việt Thanh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Bình – Ông Phạm Ngọc Lợi
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Linh Chi - Thư ký viên chính Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/HS-ST ngày 28/03/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 26/04/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trung K, sinh năm:1992, tại Ninh Bình. Nơi cư trú: số nhà A, ngõ C, đường T, phố K, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ văn hóa lớp: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn N và con bà: Hoàng Thị T; Vợ: Đinh Thị Thu T1, sinh năm 1992; con: có 02 con, con lớn sinh năm: 2013, con nhỏ sinh năm: 2020. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/12/2023 đến ngày 20/12/2023 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Phạm Văn T2, sinh năm: 1992 .
- Trú tại: phố T, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
- - Anh Phạm Văn C, sinh năm: 1999
- Trú tại: số nhà B, đường H, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
- - Công ty TNHH T4
- Địa chỉ: đường T, khu đô thị X, phường N, thành phố N.
- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Thành C1 – Cán bộ đội xe. Vắng mặt.
Người làm chứng:
- - Anh Phạm Đức T3, sinh năm: 1985 . Vắng mặt.
Người chứng kiến:
- - Anh Hoàng Xuân Đ, sinh năm: 1966. Vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1962. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 12 giờ 50 phút ngày 11/12/2023, Tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - kinh tế công an thành phố N phối hợp với công an phường N, thành phố N đang làm nhiệm vụ tại ngõ A, đường L, phố K, phường N, thành phố N phát hiện tại khu vực bãi đất trống đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là Phạm Văn C, sinh năm 1999, trú tại phố P, phường N, thành phố N đang. Thu giữ tại vị trí ngồi của C 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bám dính chất tinh thể màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn hình ống hút cố định hai đầu bằng vỏ đầu lọc điếu thuốc lá bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng, 01 vỏ túi nilon màu trắng miệng túi viền màu đỏ kích thước (5 x 8) cm bên trong không đựng gì, 01 vỏ túi nilon màu trắng miệng túi viền màu đỏ kích thước (3 x 3) cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng, 01 bật lửa ga màu đỏ. Ngoài ra còn thu giữ trong túi quần bên trái phía trước của C 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đồng. Tổ Công tác tiến hành niêm phong toàn bộ vật chứng vào phong bì thư, ký hiệu H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đồng vào phong bì, ký hiệu H2 theo đúng quy định pháp luật. Sau đó đưa Phạm Văn C cùng tang vật và mời những người có liên quan về trụ sở Công an phường N, thành phố N lập biên bản. Tại Cơ quan Công an, Phạm Văn C khai nhận nguồn gốc số ma túy là do C và bạn là H mua của Nguyễn Trung K, sinh năm 1992, trú tại: số nhà A, ngõ C, đường T, phố K, phường N, thành phố N vào khoảng 11 giờ ngày 11/12/2023, Phạm Văn C ngồi ở quán nước thuộc phường Đ, thành phố N thì gặp một người thanh niên tên H (không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). Chín biết H là người sử dụng ma túy và biết H có thể mua được ma túy “Kẹo” và ma túy “Ke” nên C rủ H đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng. H đồng ý và lấy điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0985.839.961 của C gọi điện đến số 0975.864.531 của Nguyễn Trung K giới thiệu tên là H và hỏi mua 01 chỉ ma túy “Ke” và
02 viên ma túy “Kẹo”. Nguyễn Trung K nói giá “Ke” là 1.300.000 đồng đến 1.500.000 đồng/1 chỉ, giá “Cúc”(ma tuý kẹo) là 350.000 đồng/ 1 viên. H đồng ý và bảo K gửi số tài khoản để H chuyển tiền. K có nhắn tin số tài khoản của mình cho H và nhắn số tiền “ 2.2 cả ship”. Sau đó H gọi lại cho K nói không có tiền tài khoản mà trả bằng tiền mặt rồi hẹn K ra khu vực đường hầm thuộc khu vực Q thuộc phố M, phường N, thành phố N. Khi đến chỗ hẹn H và C thấy K điều khiển xe ô tô hãng Taxi Xuân Thành biển kiểm soát 35E- 00365 đến. Chín lấy số tiền 2.200.000 đồng đưa cho K. Nguyễn Trung K cầm tiền nói “Chờ 1 tỷ để đi lấy đồ” rồi điều khiển xe đi. Trên đường đi K gọi điện đến số điện thoại 0961.313.xxx cho M nhưng M không nghe máy nên K đã sử dụng tài khoản Facebook mang tên “Nguyễn Trung K” gọi điện qua ứng dụng Messenger tới tài khoản Facebook mang tên “Phạm Ml” của M1 hỏi “Anh còn đồ không để em 1 chỉ và 2 viên”. M1 nói “Lên nhà anh mà lấy”. Khi Nguyễn Trung K đi đến khu vực gần chợ N2 thì gặp M1 đứng bên đường, K đưa M1 1.400.000 đồng, M1 cầm tiền đưa lại cho K 01 túi nilon màu trắng viền đỏ kích thước (5x8) cm bên trong có 02 viên nén màu trắng và 01 túi nilon màu trắng viền đỏ kích thước (3x3) cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Biết đó là ma tuý “Kẹo” và “Ke”, K cầm và điều khiển xe quay lại chỗ khu vực Q đưa ma tuý cho C rồi điều khiển xe đi về nhà.
Sau khi mua được ma tuý, Phạm Văn C chở H đi đến bãi đất trống thuộc ngõ A, đường L, phố K, phường N, thành phố N để sử dụng. Khi đến nơi, H nói mệt nên không sử dụng ma tuý rồi điều khiển xe đi. Lúc này C lấy 02 viên ma túy “Kẹo” ra sử dụng, sau đó đổ hết túi ma túy “Ke” vào tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng rồi dùng bật lửa hơ nóng và lấy tờ 10.000 đồng cuộn thành hình ống hút cố định hai đầu bằng vỏ đầu lọc điếu thuốc lá để sử dụng, đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, khi C vừa sử dụng hết số ma túy trên thì bị phát hiện và đưa về trụ sở Công an phường N làm việc.
Căn cứ tài liệu điều tra, cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an thành phố N thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp người, nơi ở, địa điểm, phương tiện của Nguyễn Trung K tại số nhà A, ngõ C, đường T, phố K, phường N, thành phố N. Quá trình khám xét thu giữ: Tại túi quần phía trước bên trái K đang mặc có số tiền 900.000 đồng được niêm phong vào phong bì ký hiệu K1; Tại túi quần phía trước bên phải K đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh được niêm phong vào phong bì ký hiệu K2; Thu giữ tại trước cửa nhà M1 01 xe ôtô nhãn hiệu Toyota Vios màu trắng mang BKS 35E- 003.65 và số tiền 600.000 đồng trong chiếc ví giả da màu đen để trong xe ô tô niêm phong trong phong bì ký hiệu K3. Cơ quan CSĐT công an thành phố N triệu tập Nguyễn Trung K lên làm việc, Nguyễn Trung K đã làm đơn xin đầu thú hành vi phạm tội của mình và khai nhận hành vi bán ma tuý cho H và C là đúng.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố N tiến hành trưng cầu giám định: Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng miệng túi viền màu đỏ kích thước (3 x 3)cm, tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn thành hình ống hút cố định hai đầu bằng vở đầu lọc điếu thuốc lá thu giữ của Phạm Văn C.
Tại Bản kết luận giám định số 06/KL-KTHS-MT ngày 19/12/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận: Chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trên tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 10.000 đồng và trong túi nilon gửi giám định ký hiệu H1 đều là ma túy, loại Ketamine. Lượng Ketamine bám dính đều ít, không xác định được khối lượng. Ketamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục III, số thứ tự 40; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định gồm: 01 tờ tiền 2.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 vỏ túi nilon còn lại của mẫu ký hiệu H1; 01 vỏ túi nilon không đựng gì và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong một phong bì có ghi số 06/KL-KTHS-MT theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình kiểm tra điện thoại của Phạm Văn C thu giữ 01 video mang tên “1702271940872”. C khai nhận đây là video do C quay lại quá trình mua ma tuý của Nguyễn Trung K vào ngày 11/12/2023. Cơ quan điều tra đã sao chép 01 video này vào đĩa DVD-R gửi giám định.Tại Bản kết luận giám định số 187/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 23/01/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp tin vi deo lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0985.839.961 thu giữ của Phạm Văn C, quá trình điều tra xác định C mượn chiếc điện thoại của Phạm Văn T2 sinh năm 1992, trú tại phố T, phường T, thành phố N. Ngày 11/12/2023, anh T2 không biết việc C sử dụng chiếc điện thoại để liên lạc mua ma túy của Nguyễn Trung K. Cơ quan CSĐT Công an thành phố N đã trả lại chiếc điện thoại cho anh T2. Anh T2 đã nhận lại tài sản và không đề nghị gì.
Đối với 01 xe ôtô nhãn hiệu Toyota Vios màu trắng biển kiểm soát 35E - 003.65 thu giữ của Nguyễn Trung K. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Trung K làm nghề lái xe taxi hãng X theo Hợp đồng lao động số 2176/HĐLĐ-XT và được Công ty TNHH T4 giao chiếc xe trên để đi chở khách. Ngày 11/12/2023, Nguyễn Trung K điều khiển chiếc xe ôtô nói trên đi mua ma tuý về bán, Công ty TNHH T4 không biết. Cơ quan CSĐT Công an thành phố N đã trả lại chiếc xe ôtô cho anh Nguyễn Thành C1 là cán bộ đội xe Công ty TNHH T4 theo giấy uỷ quyền ngày 19/12/2023. Anh Nguyễn Thành C1 đã nhận lại tài sản và không đề nghị gì.
Số tiền 1.500.000 đồng; 01 bật lửa ga; 01 tờ tiền 2.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 vỏ túi nilon còn lại của mẫu ký hiệu H1, 01 vỏ túi nilon không đựng gì và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong trong một phong bì có ghi số 06/KL-KTHS-MT theo đúng quy định của pháp luật; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh được chuyển đến Chi cục thi hành án nhân dân thành phố N quản lý để giải quyết cùng vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 26/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trung K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Ninh Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K từ 2 năm tù đến 2 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 11/12/2023.
Phạt tiền bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 800.000₫ là tiền thu lời bất chính trong số tiền 1.500.000đ đã thu giữ của bị cáo; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh; 01 tờ tiền mệnh giá 2.000đ; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ đã thu giữ của Phạm Văn C. Trả lại cho bị cáo số tiền 700.000₫.
Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ túi nilon còn lại của mẫu ký hiệu H1, 01 vỏ túi nilon không đựng gì và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. 01 bật lửa ga;
Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung K không có ý kiến gì với Bản kết luận giám định; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình; lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Trung K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, đơn đầu thú; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Như vậy đủ căn cứ kết luận khoảng 12 giờ 30 phút ngày
11/12/2023, tại khu vực phố M, phường N, thành phố N bị cáo Nguyễn Trung K đã có hành vi bán 02 viên ma túy loại MDMA và 01 túi ma túy loại Ketamine cho Phạm Văn C và một người tên H lấy 2.200.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma tuý
- Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 triệu đồng đến 500.000.000 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội, phát sinh các tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh và trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn rấn thân vào con đường phạm tội, để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, để có tiền sử dụng ma túy, bị cáo mua ma túy bán lại cho những người khác mục đích kiếm lời lấy tiền mua ma túy sử dụng và phục vụ bản thân. Hội đồng xét xử thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc bằng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo góp phần phòng ngừa chung trong xã hội.
Khi lượng mức hình phạt Hội đồng xét xử cần phải cân nhắc xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt như: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; khi bị phát hiện đã có đơn xin đầu thú về hành vi phạm tội là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ nói trên để giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hành vi mua bán trái phép chất ma túy mục đích kiếm lời nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[2] Các vấn đề khác:
- - Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai mua của một người tên M1 nhà ở gần chợ N2, huyện H có số điện thoại 0961.313.xxx và tài khoản Facebook tên “Phạm Ml”. Quá trình điều tra xác định số điện thoại 0961.313.xxx đăng ký tên Nguyễn Minh N1 sinh năm 1991, HKTT xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, chỗ ở hiện nay phường K, Quận T, thành phố Hà Nội. Anh N1 khai có đăng ký và sử dụng số thuê bao nói trên từ tháng 5/2022 nhưng đến cuối năm 2022 anh N1 đã bỏ không sử dụng chiếc sim số thuê bao này nữa và hiện nay anh N1 không biết ai đang sử dụng sim số thuê bao nói trên. Quá trình làm việc với Công an thị trấn T, huyện H, tỉnh Ninh Bình xác định người tên M1 sử dụng số điện thoại và tài khoản Facebook nói trên là anh Phạm Khiêm M2, sinh năm 1990, trú tại phố Đ, thị trấn T, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập Phạm Khiêm M2 đến làm việc nhưng M2 đều vắng mặt tại địa phương, M2 đi đâu, làm gì gia đình không biết và không báo cáo chính quyền địa phương. Cơ quan CSĐT Công an thành phố N tách phần tài liệu liên quan đến Phạm Khiêm M2 để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ.
- - Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra cơ quan công an có thu giữ: Chất tinh thể mầu trắng bám dính trong túi nilong mầu trắng, trên tờ tiền mệnh giá 2.000đ và 10.000đ thu giữ của Phạm Văn C. Cơ quan giám định đã xác định chất tinh thể mầu trắng bám dính là ma tuý loại Ketamine. Lượng bám dính ít không xác định được khối lượng trong mẫu kí hiệu H1; 01 vỏ túi nilon không đựng gì, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong không có giá trị sử dụng, 01 bật lửa ga, cần tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi của bị cáo Nguyễn Trung K cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0985.839.961 thu giữ của Phạm Văn C; 01 xe ôtô nhãn hiệu Toyota Vios màu trắng biển kiểm soát 35E - 003.65 thu giữ của bị cáo Nguyễn Trung K quá trình điều tra xác minh không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã hoàn trả lại cho chủ sở hữu, không ai có ý kiến gì. Việc trả lại số tài sản trên là đúng pháp luật nên HĐXX không đặt ra xem xét.
- Đối với số tiền đã thu giữ: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 800.000đ là tiền thu lời bất chính trong số tiền 1.500.000₫ đã thu giữ của bị cáo K; 01 tờ tiền mệnh giá 2.000đ; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ đã thu giữ của Phạm Văn C. Trả lại cho bị cáo số K số tiền 700.000đ là tài sản cá nhân của bị cáo.
Đối với Phạm Văn C là người đã mua ma túy của bị cáo K để sử dụng cho bản thân. Do C đã sử dụng hết số ma túy trên, lượng ma tuý K1 bám dính tại các vỏ túi nilon và tờ tiền thu giữ của C không xác định được khối lượng nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Phạm Văn C. Công an thành phố N đã ra Quyết định xử phạt hành chính hình thức cảnh cáo đối với Phạm Văn C là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
Đối với người tên H đã cùng C đi mua ma túy của Nguyễn Trung K, quá trình điều tra C khai có mối quan hệ bạn bè với H và không biết họ, tên, địa chỉ của H do đó không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
[3] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng Pháp luật.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1; khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung K 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 11/12/2023.
Phạt bổ sung 5.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ túi nilon còn lại của mẫu kí hiệu H1; 01 vỏ túi nilon không đựng gì, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong không có giá trị sử dụng, 01 bật lửa ga.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Redmi mầu xanh; 01 tờ tiền mệnh giá 2.000đ; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ đã thu giữ của Phạm Văn C.
- (Vật chứng có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 04 năm 2024 giữa Công an Thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 800.000đ là tiền thu lời bất chính trong số tiền 1.500.000đ đã thu giữ của bị cáo K; Trả lại cho bị cáo K số tiền 700.000₫.
- (Số tiền 1.500.000đ hiện đang ở tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình tại kho bạc Nhà nước thành phố N, theo ủy nhiệm chi ngày 09 tháng 04 năm 2024).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Trung K2 nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trịnh Việt Thanh |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo K phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 2 Điều 251 BLHS
