|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN ---------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 58/2024/HS-ST Ngày 09-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bế Đức Thông;
- Bà Lương Thị Phượng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Thu Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2024/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Vy Văn T; sinh ngày 06/12/1996 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vy Văn S, sinh năm 1974 và bà Vi Thị D, sinh năm 1974; vợ con: Chưa có; tiền án: Tại Bản án số 66/2022/HS-ST ngày 29/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/3/3023; tiền sự: Không có; nhân thân: Đã bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giam từ ngày 25/4/2024 đến nay. Có mặt.
- Bị hại:
- Ông Lương Văn L, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Ông Hà Văn B, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Bế Văn T1, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Ông Vy Văn S, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Bà Phan Thị H; sinh năm 1966; địa chỉ: Khu H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/4/2024, Công an xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn nhận được đơn trình báo của ông Lương Văn L về việc ngày 23/4/2024 phát hiện khu vực để thóc của gia đình mất trộm 03 bao thóc với trọng lượng mỗi bao khoảng 40kg, cửa không có dấu hiệu cậy phá và nghi ngờ VyVăn T lấy trộm. Cùng ngày 24/4/2024, Công an thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn nhận được đơn trình báo của ông Hà Văn B về việc ngày 24/4/2024, ông Hà Văn B bị mất trộm chiếc xe mô tô biểm kiểm soát 12F8 – 2865 tại khu H thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi nhận được đơn trình báo, lực lượng chức năng đã đến nhà để triệu tập Vy Văn T đến làm việc, phát hiện tại bụi cây cạnh nhà Vy Văn T có 01 xe mô tô biểm kiểm soát 1278 – 2865, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc theo quy định.
Tại cơ quan điều tra, Vy Văn T khai nhận: Do cùng làm thợ xây dựng nên vào khoảng tháng 03/2023, Vy Văn T thường xuyên ở lại nhà ông Lương Văn L. Do bản thân nghiện ma túy, lười lao động, không có tiền tiêu sài nên bị cáo đã nảy sinh ý định trộm thóc của ông Lương Văn L mang đi bán lấy tiền và đã 03 lần thực hiện hành vi trộm thóc của ông Lương Văn L, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 14 giờ ngày 13/04/2024, lợi dụng gia đình ông Lương Văn L không có ai ở nhà, Vy Văn T đã lấy trộm 01 bao thóc bao thai có trọng lượng 39 kg từ trong bồ thóc để ở trong nhà ông Lương Văn L mang đến cửa hàng sát thóc của anh Bế Văn T1 để bán. Tại đây, Vy Văn T cho Bế Văn T1 biết đây là thóc của mình nên Bế Văn T1 đồng ý mua với giá 10.000 đồng/01 kg được 390.000 đồng và đã tiêu sài cá nhân hết. Đối với số thóc mua được, Bế Văn T1 đã xát thành gạo bán cho khách không rõ họ tên, địa chỉ.
Lần 2: Khoảng 10 giờ ngày 15/04/2024, lợi dụng gia đình ông Lương Văn L không có ai ở nhà, Vy Văn T lấy trộm 40 kg thóc bao thai trong nhà ông Lương Văn L và mang đến cửa hàng của anh Bế Văn T1 bán với giá 10.000 đồng/01 kg được số tiền 400.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Đối với số thóc sau khi mua được Bế Văn T1 đã xát thành gạo bán cho khách không rõ họ tên, địa chỉ.
Lần 3: Khoảng 16 giờ 30 ngày 23/04/2024, ông Lương Văn L nhờ Vy Văn T đến khu vực thôn T, xã H, V để đón ông Lương Văn L. Vy Văn T điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, biển kiểm soát 12V1-048.60 của gia đình để đi đón ông Lương Văn L. Biết ông Lương Văn L không ở nhà nên Vy Văn T đã đến nhà ông Lương Văn L. Thấy cửa nhà không khóa, Vy Văn T vào nhà mở bồ đựng thóc bằng tôn và lấy trộm 01 bao thóc có trọng lượng 40 kg rồi mang đến cửa hàng của anh anh Bế Văn T1 để bán với giá 10.000 đồng/01 kg được số tiền 400.000 đồng. Tuy nhiên, Bế Văn T1 cho Vy Văn T thêm 6.000 đồng. Tổng số tiền Vy Văn T nhận được là 406.000 đồng. Toàn bộ số tiền này Vy Văn T đã sử dụng để tiêu sài cá nhân hết. Đối với số thóc này Bế Văn T1 chưa kịp bán, Bế Văn T1 tự nguyện giao nộp lại bao thóc cho Cơ quan điều tra.
Ngoài ra, khoảng 19 giờ 30 ngày 24/4/2024, Vy Văn T đi bộ tại thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Khi đi đến đoạn đường thuộc khu H, thị trấn N, Vy Văn T thấy trước cửa nhà bà Phan Thị H có 01 xe mô tô nhãn hiệu Super Dream, màu đỏ, biển kiểm soát 12F8 - 2865. Quan sát không thấy có ai trông coi, Vy Văn T đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô này để đem đi bán lấy tiền tiêu sài. Vy Văn T tiến đến nhìn vào bên trong nhà bà Phan Thị H thì thấy trong nhà có 01 chiếc xe mô tô có cắm chìa khóa nên đã rút chìa khóa đó mang ra cắm thử vào chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12F8-2865 và vặn mở khóa thì mở được. Sau đó, Vy Văn T nổ máy điều khiển xe mô tô đi về nhà tại thôn B, xã H, huyện V giấu tại khu đồi gần nhà để sáng hôm sau đem đi bán lấy tiền. Ngày 25/4/2024, khi Cơ quan Công an đến nhà để triệu tập Vy Văn T đến trụ sở làm việc thì phát hiện chiếc xe mô tô này.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 26/04/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: Tổng giá trị tài sản 01 bao thóc bao thai thu hoạch tháng 9/2023 có trọng lượng 40 kg là 440.000đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 26/04/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: Tổng giá trị 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Super Dream, màu đỏ, cũ đã qua sử dụng biển kiểm soát 12F8 – 2865 là 7.333.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 17/06/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: Tổng giá trị 79 kg thóc bao thai là 869.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Vy Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vy Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 12V1 - 048.60 là của ông Vy Văn S, việc bị cáo sử dụng chiếc xe này vào hành vi trộm cắp tài sản ông Vy Văn S không biết. Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại cơ quan điều tra, bị hại ông Lương Văn L khai đã được nhận lại 01 bao thóc 40 kg, loại thóc bao thai. Đối với số thóc còn lại bị Vy Văn T lấy trộm, ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Các bị hại ông Hà Văn B là chủ sở hữu của chiếc mô tô biển kiểm soát 12F8–2865 và bà Phan Thị H là chủ sở hữu của chiếc chìa khóa của xe mô tô mà ngày 24/4/2024 bị cáo đã rút mang ra cắm thử vào chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12F8 – 2865 không có ý kiến, yêu cầu gì thêm do đã được nhận lại tài sản.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Bế Văn T1 trình bày sự việc như nội dung nêu trên. Số lượng thóc anh đã mua 2 lần đầu với bị cáo Vy Văn T anh đã bán cho khách vãng lai. Đối với 40kg thóc đã mua lần thứ ba anh đã giao nộp cho cơ quan Công an. Khi mua thóc của Vy Văn T, anh không biết số thóc này là tài sản do trộm cắp mà có. Anh không có yêu cầu, đề nghị gì đối với số tiền đã bỏ ra mua thóc với bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Vy Văn S khai, ông là bố của bị cáo Vy Văn T. Chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 12V1 - 048.60 là thuộc sở hữu của ông mua về để phục vụ việc đi lại của gia đình. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe này vào hành vi trộm cắp tài sản ông không biết và đề nghị được nhận lại chiếc xe.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Vy Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù do bị cáo thành khẩn khai báo, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo làm ruộng, không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị. Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 12V1 - 048.60 cho ông Vy Văn S là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe, ông Vy Văn S không biết bị cáo sử dụng xe vào hành vi phạm tội. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Bị cáo phải chịu án phí hình sự và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Xét thấy những người này đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [3] Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận: Lợi dụng gia đình ông Lương Văn L không có ai ở nhà, bị cáo Vy Văn T đã 03 lần lấy trộm thóc bao thai. Lần 1, khoảng 14 giờ ngày 13/04/2024 đã lấy trộm 39 kg thóc bao thai có giá trị 390.000 đồng. Lần 2, khoảng 10 giờ ngày 15/04/2024 đã lấy trộm 40 kg thóc bao thai có giá trị 400.000 đồng. Lần 3, khoảng 16 giờ 30 ngày 23/04/2024 đã lấy trộm 40 kg thóc bao thai có giá trị 400.000 đồng. Bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 66/2022/HS-ST ngày 29/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, chưa được xóa án tích nay lại vi phạm. Do vậy, hành vi này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- [4] Ngoài ra, ngày 24/4/2024, Vy Văn T còn thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Super Dream, màu đỏ, biển kiểm soát 12F8 - 2865 có giá trị 7.333.000 đồng của ông Hà Văn B. Hành vi này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- [5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sự sơ hở về quản lý tài sản của bị hại để chiếm đoạt tài sản. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
- [6] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- [7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- [8] Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo có 01 tiền án bị xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/3/3023. Do đó đánh giá bị cáo là người có nhân thân xấu.
- [9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- [10] Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.
- [11] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì, không có đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- [12] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp là ông Lương Văn L 01 bao thóc bao thai với trọng lượng 40 kg; trả lại cho ông Hà Văn B 01 xe mô tô nhãn hiệu Super Dream, màu đỏ, biển kiểm soát 12F8 - 2865; trả lại cho bà Phan Thị H 01 chiếc chìa khóa xe mô tô đã cũ là đúng quy định. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 12V1 - 048.60 của ông Vy Văn S, do ông Vy Văn S không biết việc bị cáo Vy Văn T sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho ông Vy Văn S.
- [13] Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- [14] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 và khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 47; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tội danh
- Hình phạt
- Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp
- Án phí
- Quyền kháng cáo
Tuyên bố bị cáo Vy Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo Vy Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (ngày 25/4/2024).
Trả lại cho ông Vy Văn S 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc, BKS: 12V1 - 04860, số máy: 5C6J058793, số khung RLCS5C6JOEY058777, cũ đã qua sử dụng. (Hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/8/2024 giữa Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).
Bị cáo Vy Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/8/2024). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
7
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lợi dụng gia đình ông Lương Văn L không có ai ở nhà, bị cáo Vy Văn T đã 03 lần lấy trộm thóc bao thai. Lần 1, khoảng 14 giờ ngày 13/04/2024 đã lấy trộm 39 kg thóc bao thai có giá trị 390.000 đồng. Lần 2, khoảng 10 giờ ngày 15/04/2024 đã lấy trộm 40 kg thóc bao thai có giá trị 400.000 đồng. Lần 3, khoảng 16 giờ 30 ngày 23/04/2024 đã lấy trộm 40 kg thóc bao thai có giá trị 400.000 đồng. Bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 66/2022/HS-ST ngày 29/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, chưa được xóa án tích nay lại vi phạm. Do vậy, hành vi này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự
