Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/DS-ST. Ngày: 07-9-2024.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản”

và “Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Minh Trâm.

2. Ông Nguyễn Phương Nhân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 220/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản” và “Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 60/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 05/TB-TA ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Công ty Cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay.

Địa chỉ trụ sở chính: Số 128 Nguyễn Du, phường Bến Thủy, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông KANORWATPAISAL NAPAT - Sinh năm 1972 - Chức danh: Giám đốc.

Địa chỉ liên lạc: Số 928 đường Lạc Long Quân, phường 8, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hoàn Tâm - Sinh năm 1996 (Theo Giấy ủy quyền số 236/2023/UQ-SVN ngày 25/10/2023) (Có mặt).

Nơi thường trú: Thôn Từ Tâm 02, xã Phước Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Địa chỉ liên hệ: Số 273 Ngô Gia Tự, phường Tấn Tài, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

2/ Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Tuyết Sương - Sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố 03, phường Mỹ Hương, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Hoàn Tâm trình bày:

Công ty Cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay (Viết tắt là Công ty SAWAD) không được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép hoạt động nên không hoạt động kinh doanh theo Luật các tổ chức tín dụng và các Văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng phi Ngân hàng. Công ty SAWAD chỉ được Phòng đăng ký kinh doanh - Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, đăng ký thay đổi lần thứ 7 ngày 27/03/2024.

Công ty SAWAD có các tên ngành đăng ký theo “Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp” số 5942/24 ngày 22/03/2024 của Phòng đăng ký kinh doanh - Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Nghệ An. Theo đó, thông tin của doanh nghiệp (Công ty SAWAD) được cập nhật vào hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp gồm ngành nghề kinh doanh, mã ngành và kinh doanh đúng các ngành nghề đã đăng ký; trong đó có ngành chính là “Dịch vụ cầm đồ” theo mã ngành 6492.

Ngày 27/4/2023 bà Huỳnh Thị Tuyết Sương và Công ty Cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay qua Công ty TNHH Srisawad Việt Nam - Chi nhánh Phan Rang 2 (Viết tắt là Công ty SAWAD) ký kết Hợp đồng cầm cố số P2M230402034NA19X và Phụ lục hợp đồng cầm cố điều khoản chung số P2M230402034NA19X (Viết tắt là Hợp đồng cầm cố); cụ thể như sau:

Công ty SAWAD nhận bảo đảm khoản tiền cầm cố thông qua Hợp đồng cầm cố số P2M230402034NA19X, số đăng ký giao dịch bảo đảm trên hệ thống đăng ký trực tuyến của cục đăng ký quốc gia: Giaodichdambao/botuphap; theo web: https://dktructuyen.moj.gov.vn/ với tài sản cầm cố là chiếc xe máy loại xe: GPX DEMON, màu trắng đen; số khung: MLTSLA409JB107245; số máy: 2FMJFB107245; biển số: 85B1-716.87; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 052262 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 30/7/2019 thuộc quyền sở hữu của bà Huỳnh Thị Tuyết Sương để bà Sương nhận số tiền cầm cố là 16.500.000 đồng với thời hạn cầm cố là 24 tháng (Kể từ ngày 27/4/2023 đến ngày 27/4/2025). Tài sản cầm cố giữa bà Huỳnh Thị Tuyết Sương và Công ty SAWAD đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo số đăng ký 1465853207 trên hệ thống đăng ký trực tuyến của Cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm - Bộ Tư pháp ngày 19/7/2022.

Lãi suất cầm cố cố định là 1,1%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền. Bà Sương cam kết thanh toán tiền định kỳ hàng tháng bao gồm gốc và lãi trong hạn với số tiền là 833.346 đồng vào ngày 27 hàng tháng từ tháng 5/2023 đến tháng 4/2025. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cầm cố trong hạn được áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Phí quản lý hồ sơ cố định là 0,5%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền.

Phí đăng ký và xóa giao dịch bảo đảm là 150.000 đồng; loại phí này chỉ thu 01 lần tại thời điểm giao kết hợp đồng, Công ty SAWAD đã thu của bà Sương.

Phí tổ chức kiểm tra giá trị tài sản ban đầu là 247.500 đồng; loại phí này chỉ thu 01 lần tại thời điểm giao kết hợp đồng làm căn cứ chấp thuận khoản cầm cố của khách hàng, Công ty SAWAD đã thu của bà Sương.

Phí trả nợ trước hạn là 7% trên dư nợ thực tế chưa đến hạn; loại phí này chỉ thu khi khách hàng có nguyện vọng muốn trả nợ trước hạn.

Phạt vi phạm kỳ hạn trả nợ với mức phí là 8% trên dư nợ thực tế chưa đến hạn.

Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm.

Ngoài ra, bà Huỳnh Thị Tuyết Sương đã lập “Giấy ủy quyền” ngày 27/4/2023 ủy quyền cho Công ty SAWAD với nội dung: “Bên nhận ủy quyền được thay mặt bên ủy quyền quản lý, sử dụng và định đoạt (cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng của tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc khai thác tài sản) tài sản là chiếc xe mang biển số 85B1-716.87 của bên ủy quyền”. Do bà Sương không có phương tiện đi lại để phục vụ công việc cá nhân nên trong ngày 27/4/2023, bà Sương đã lập “Giấy mượn xe” xin mượn lại chiếc xe mang biển số 85B1-716.87 đã được cầm cố trên trong thời hạn 30 ngày từ ngày 27/4/2023 đến ngày 27/5/2023 và Công ty SAWAD đã đồng ý bàn giao tài sản cầm cố trên cho bà Sương mượn. Bà Sương đồng ý trả các loại phí gồm:

Phí mượn xe là 495.000 đồng nếu quá thời hạn nêu trên mà bà Sương không trả xe cho Công ty SAWAD thì sẽ vẫn phải chịu phí mượn xe theo thỏa thuận trên.

Phí thu hồi, xử lý tài sản cầm cố xe máy là 1.000.000 đồng và các thỏa thuận khác liên quan đến việc mượn xe máy nêu trên.

Quá trình thực hiện Hợp đồng và “Giấy mượn xe” nêu trên, bà Huỳnh Thị Tuyết Sương đã thanh toán cho Công ty SAWAD vào các ngày 27/5/2023, 27/6/2023, 27/7/2023, 28/8/2023 và 27/9/2023 với tổng số tiền là 5.816.730 đồng; trong đó: Số tiền gốc là 2.939.296, số tiền lãi là 843.861 đồng, phí quản lý hồ sơ là 383.573 đồng và phí mượn xe là 1.650.000 đồng rồi sau đó không trả bất kỳ khoản tiền nào cho Công ty SAWAD nữa. Bà Sương cũng không trả lại xe đã mượn cho Công ty SAWAD đúng hạn như cam kết.

Tại đơn khởi kiện ngày 09/5/2024, Công ty SAWAD yêu cầu bà Huỳnh Thị Tuyết Sương phải trả lại xe máy mang biển số 85B1-716.87 đã mượn theo “Giấy mượn xe” mà hai bên đã ký kết. Nếu bà Sương không trả lại chiếc xe máy trên thì phải trả số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí phạt trễ hạn, phí mượn xe. Đến phiên hòa giải ngày 15/7/2024, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà Sương phải trả lại xe máy nhưng phải trả số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí mượn xe.

Tại phiên tòa, ông Lê Hoàn Tâm đại diện theo ủy quyền cho Công ty SAWAD yêu cầu giải quyết:

Không yêu cầu bà Huỳnh Thị Tuyết Sương phải giao trả lại chiếc xe máy loại xe: GPX DEMON, màu trắng đen; số khung: MLTSLA409JB107245; số máy: 2FMJFB107245; biển số: 85B1-716.87 đã cầm cố mà bà Sương mượn lại của Công ty SAWAD.

Buộc bà Huỳnh Thị Tuyết Sương phải thanh toán số tiền 20.898.000 đồng (Đã làm tròn); Trong đó tiền gốc là 13.560.703 đồng, tiền lãi trong hạn là 1.249.452 đồng, tiền lãi quá hạn là 643.486 đồng và phí mượn xe là 5.445.000 đồng.

Khi nào bà Huỳnh Thị Tuyết Sương thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Công ty Cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay sẽ giao trả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 052262 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 30/7/2019 cho bà Huỳnh Thị Tuyết Sương.

Bị đơn là bà Huỳnh Thị Tuyết Sương: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Huỳnh Thị Tuyết Sương không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn mặc dù đã được thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Toà án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay.

Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thay đổi yêu cầu khởi kiện: Tại đơn khởi kiện, Công ty SAWAD yêu cầu bà Huỳnh Thị Tuyết Sương phải trả lại xe máy đã mượn theo “Giấy mượn xe” mà hai bên đã ký kết; nếu bà Sương không trả lại xe máy thì phải trả số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí phạt trễ hạn, phí mượn xe. Đến phiên hòa giải ngày 15/7/2024, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà Sương phải trả lại xe máy nhưng phải trả số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí mượn xe. Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà Sương phải trả chiếc xe máy đã mượn lại, yêu cầu bà Sương trả số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và phí mượn xe. Hội đồng xét xử xác định việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên căn cứ vào Điều 244 của BLTTDS, chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của đương sự, các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bà Huỳnh Thị Tuyết Sương cầm cố xe máy cho Công ty SAWAD để nhận tiền, ngay sau đó lập giấy mượn xe đã cầm cố để dùng làm phương tiện đi lại. Như vậy, bản chất của giao dịch dân sự lập “Hợp đồng cầm cố” và “Giấy mượn xe” giữa Công ty SAWAD và bà Sương là để che đậy mục đích thật sự là “Vay tiền”. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản” và “Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản” theo khoản 3 Điều 26 của BLTTDS. Bị đơn có địa chỉ tại khu phố 6, phường Mỹ Hương, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Huỳnh Thị Tuyết Sương không đến Tòa án tham gia tố tụng, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty SAWAD, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[2.1] Đối với nội dung vay có cầm cố tài sản: Công ty SAWAD cho bà Huỳnh Thị Tuyết Sương vay tiền có cầm cố tài sản là chiếc xe máy thuộc quyền sở hữu của bà Sương để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, việc cho vay và cầm cố tài sản các bên không lập thành từng hợp đồng riêng biệt mà lập chung một hợp đồng có tiêu đề là “Hợp đồng cầm cố” và có “Phụ lục hợp đồng cầm cố điều khoản chung” kèm theo (Gọi tắt là Hợp đồng cầm cố). Trong Hợp đồng cầm cố các bên thỏa thuận số tiền vay, lãi suất, thời hạn, phương thức thanh toán, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các khoản phí liên quan đến cầm cố tài sản. Căn cứ các chứng cứ, tài liệu và lời khai nguyên đơn cung cấp; Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1.1] Ngày 27/4/2023, giữa bà Huỳnh Thị Tuyết Sương và Công ty SAWAD ký kết Hợp đồng cầm cố. Căn cứ nhu cầu và trị giá tài sản cầm cố của bà Sương; Công ty SAWAD đã nhận cầm cố chiếc xe máy biển số 85B1-716.87 và cho bà Sương vay số tiền 16.500.000 đồng. Hai bên thỏa thuận thời hạn vay là 24 tháng, lãi suất cho vay cố định là 1,1%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền; bà Sương có nghĩa vụ trả tiền vào ngày 27 của tháng, từ tháng 5/2023 đến tháng 4/2025; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Hợp đồng cầm cố giữa Công ty SAWAD và bà Sương được ký kết trên cơ sở tự nguyện, mục đích, nội dung và hình thức đúng quy định của pháp luật nên xác định là Hợp đồng hợp pháp; là cơ sở để giải quyết quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

[2.1.2] Quá trình thực hiện Hợp đồng cầm cố, bà Sương đã thanh toán cho Công ty SAWAD từ ngày 27/5/2023 đến ngày 27/9/2023 được số tiền gốc là 2.939.296 đồng; số tiền lãi là 843.861 đồng. Sau đó bà Sương không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Công ty SAWAD nữa. Căn cứ các tài liệu nguyên đơn cung cấp, xác định tính đến ngày 27/9/2023, bà Sương còn nợ số tiền gốc là: 13.560.703 đồng. Do hợp đồng bà Sương ký kết với Công ty SAWAD là 24 tháng nên tính đến ngày 27/4/2025 mới hết hạn hợp đồng. Tuy nhiên, ngày 07/9/2024 là ngày xét xử sơ thẩm vụ án do Công ty SAWAD khởi kiện bà Sương. Bởi vậy, thời hạn để xem xét, giải quyết các yêu cầu khởi kiện của Công ty SAWAD đối với bà Sương là đến hết ngày 07/9/2024 (Ngày xét xử sơ thẩm). Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định từ ngày 28/9/2023 đến ngày 07/9/2024 là 345 ngày là thời hạn bà Sương phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trong hạn theo quy định là 1.712.309 đồng (Cách tính: 13.560.703 đồng x 0,0366%/ngày x 345 ngày). Tuy nhiên dựa trên cách tính của Công ty SAWAD thì số tiền lãi trong hạn bà Sương phải thanh toán là 1.249.452 đồng là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận. Đối với lãi quá hạn được tính từ ngày bà Sương vi phạm nghĩa vụ trả nợ là ngày 28/9/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 07/9/2024) là 345 ngày với số tiền là 2.573.143 đồng (Cách tính 13.560.703 đồng x 1,1% x 150% : 30 ngày x 345 ngày). Tuy nhiên dựa trên cách tính của Công ty SAWAD thì số tiền lãi quá hạn bà Sương phải thanh toán là 643.486 đồng là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận.

[2.1.3] Để bảo đảm cho khoản vay, bà Huỳnh Thị Tuyết Sương đã cầm cố chiếc xe máy biển số 85B1-716.87 thuộc sở hữu của bà Sương cho Công ty SAWAD. Tài sản cầm cố đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo số đăng ký 1465853207 trên hệ thống đăng ký trực tuyến của Cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm - Bộ Tư pháp ngày 19/7/2022. Chi phí cho việc đăng ký và xóa giao dịch bảo đảm là 150.000 đồng và chi phí tổ chức kiểm tra giá trị tài sản ban đầu là 247.500 đồng tại thời điểm giao kết hợp đồng làm căn cứ chấp thuận khoản cầm cố của bà Sương. Hai loại phí này chỉ thu 01 lần và Công ty SAWAD đã thu của bà Sương. Xét thấy các chi phí này là sự thỏa thuận giữa Công ty SAWAD và bà Sương, phù hợp với quy định của pháp luật, bà Sương đã trả mà không có ý kiến gì và Công ty SAWAD không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.2] Đối với nội dung mượn tài sản: Theo các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp; Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.2.1] Ngày 27/4/2023, bà Huỳnh Thị Tuyết Sương đã lập “Giấy ủy quyền” để ủy quyền cho Công ty SAWAD với nội dung: “Bên nhận ủy quyền được thay mặt bên ủy quyền quản lý, sử dụng và định đoạt (cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng của tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc khai thác tài sản) chiếc xe mang biển số 85B1-716.87”. Do bà Sương không có phương tiện đi lại để phục vụ công việc cá nhân nên cũng trong ngày 27/4/2023; bà Sương đã lập “Giấy mượn xe” xin mượn lại chiếc xe mang biển số 85B1-716.87 đã được cầm cố trong thời hạn 30 ngày từ ngày 27/4/2023 đến ngày 27/5/2023 và Công ty SAWAD đã đồng ý bàn giao tài sản cầm cố trên cho bà Sương mượn; bà Sương đồng ý trả phí mượn xe là 495.000 đồng, nếu quá thời hạn nêu trên mà bà Sương không trả xe cho Công ty SAWAD thì vẫn phải chịu phí mượn xe đã thỏa thuận.

[2.2.2] Việc các bên thỏa thuận cho mượn lại tài sản cầm cố và thỏa thuận phí mượn xe là sự tự nguyện của các bên tham gia giao dịch, không bị pháp luật cấm tại thời điểm thỏa thuận. Bà Sương đã thực hiện trên thực tế, trả cho Công ty SAWAD 05 tháng với số tiền 1.650.000 đồng mà không có tranh chấp, khiếu nại gì. Từ ngày 27/9/2023 cho đến ngày 07/9/2024 là gần 12 tháng, bà Sương chưa giao lại tài sản cầm cố đã mượn lại và cũng không thanh toán chi phí mượn tài sản cho Công ty SAWAD. Tuy nhiên, Công ty SAWAD chỉ yêu cầu bà Sương phải thanh toán chi phí mượn tài sản đến ngày 27/8/2024 là 11 tháng với số tiền 5.445.000 đồng (Cách tính: 495.000 đồng/tháng x 11 tháng) là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận.

[2.3] Như vậy, Công ty SAWAD yêu cầu bà Huỳnh Thị Tuyết Sương phải thanh toán tiền gốc là 13.560.703 đồng, tiền lãi trong hạn là 1.249.452 đồng, tiền lãi quá hạn là 643.486 đồng, tiền phí mượn xe là 5.445.000 đồng; tổng số tiền là 20.898.000 đồng (Đã làm tròn theo đề nghị của nguyên đơn) là có căn cứ chấp nhận.

[2.4] Chiếc xe máy mang biển số 85B1-716.87, Công ty SAWAD đã giao cho bà Sương quản lý, sử dụng khi hai bên lập “Giấy mượn xe” và không yêu cầu bà Sương phải trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Đối với Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 052262 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 30/7/2019 mang tên bà Huỳnh Thị Tuyết Sương, hiện tại Công ty SAWAD đang giữ, khi nào bà Sương thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ Công ty SAWAD có nghĩa vụ giao trả cho bà Sương.

[3]. Tại Hợp đồng cầm cố tài sản, bà Huỳnh Thị Tuyết Sương và Công ty SAWAD có thỏa thuận phí quản lý hồ sơ cố định là 0,5%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền. Bà Sương đã trả cho Công ty SAWAD được số tiền theo thỏa thuận này là 383.573 đồng. Theo quy định của pháp luật hiện hành về cầm cố tài sản là không có phí. Lẽ ra, số tiền trên Công ty SAWAD phải trả lại cho bà Sương, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, bà Sương không có ý kiến hay khiếu nại gì về số tiền này và Công ty SAWAD cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với loại phí này nữa nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, giải quyết.

[4] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Huỳnh Thị Tuyết Sương, có nội dung thể hiện yêu cầu khởi kiện của Công ty SAWAD đối với bà Sương nhưng bà Sương không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Công ty SAWAD xuất trình nên có cơ sở khẳng định bà Sương đã từ bỏ quyền của mình được pháp luật quy định.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên Công ty SAWAD không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm và được hoàn lại số tiền đã tạm ứng; bị đơn là bà Huỳnh Thị Tuyết Sương phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm là 1.045.000 đồng (Đã làm tròn).

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 244; Điều 271, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Các Điều 309, 310, 311, 313, 316, 375, 463, 466, 468, 470, 494, 496, 497 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay.

1. Buộc bà Huỳnh Thị Tuyết Sương có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay số tiền tổng cộng là 20.898.000 đồng (Đã làm tròn) (Hai mươi triệu, tám trăm chín mươi tám nghìn đồng). Trong đó tiền gốc là 13.560.703 đồng (Mười ba triệu, năm trăm sáu mươi nghìn, bảy trăm linh ba đồng), tiền lãi trong hạn là 1.249.452 đồng (Một triệu, hai trăm bốn mươi chín nghìn, bốn trăm năm mươi hai đồng), tiền lãi quá hạn là 643.486 đồng (Sáu trăm, bốn mươi ba nghìn, bốn trăm tám mươi sáu đồng) và phí mượn xe là 5.445.000 đồng (Năm triệu, bốn trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong; bà Huỳnh Thị Tuyết Sương còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất Công ty Cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay và bà Huỳnh Thị Tuyết Sương thỏa thuận trong các hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Ngay sau khi bà Huỳnh Thị Tuyết Sương thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Công ty Cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay có nghĩa vụ giao trả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 052262 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 30/7/2019 cho bà Huỳnh Thị Tuyết Sương.

2. Về án phí:

2.1. Bà Huỳnh Thị Tuyết Sương phải chịu 1.045.000 đồng (Đã làm tròn) (Một triệu, không trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

2.2. Công ty Cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại số tiền 502.000 đồng (Năm trăm linh hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002708 ngày 20/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn - quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 07/9/2024). Bị đơn vắng mặt - quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND Tp. Phan Rang-Tháp Chàm;
  • - Chi cục THADS Tp. Phan Rang-Tháp Chàm;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 07/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản và tranh chấp hợp đồng mượn tài sản

  • Số bản án: 58/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản và Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản giữa Công ty S và bà Huỳnh Thị Thu S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger