|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/DS-ST
Ngày: 07/6/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Thái và bà Diệp Thị Thu Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 225/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44A/2024/QĐST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K1
Địa chỉ trụ sở: 4 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M – Chức vụ: Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V – Chức vụ: Phó Tổng Giám đốc
(Theo văn bản ủy quyền số 275/QĐ-NHKL ngày 18/01/2023 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP K1)
Người được ủy quyền lại:
- + Ông Bùi Vĩnh T – Chuyên viên xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K1
- (Theo Văn bản ủy quyền số 3692/QĐ-NHKL ngày 15/9/2023)
- + Ông Danh T1 - Nhân viên xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K1
- + Ông Phạm Đông X - Chuyên viên xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K1
- + Ông Trần Thanh V1 - Chuyên viên xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K1
- + Ông Nguyễn Khoa H - Chuyên viên xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K1
- (Theo Quyết định số 510/QĐ-NHKL ngày 23/02/2024)
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1988 và bà Đoàn Thị Thúy K, sinh năm 1990
Cùng địa chỉ: Ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang
Tại phiên tòa, ông T có mặt; các đương sự còn lại vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K có đến Ngân hàng TMCP K1 (gọi tắt là Ngân hàng) vay tổng số tiền 4.180.000.000 đồng, cụ thể:
Khoản vay 1: Theo Hợp đồng tín dụng số 259/21/HĐTD/1203-9007 ngày 07/6/2021 vay số tiền 2.000.000.000 đồng, mục đích: hoàn vốn xây dựng nhà ở, lãi suất 12%/năm, lãi quá hạn 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả 10%/năm; hình thức thanh toán phân thành 40 kỳ, mỗi kỳ cách nhau 03 tháng, số tiền gốc phải trả mỗi kỳ là 50.000.000 đồng, lãi trả 03 tháng/lần theo dư nợ thực tế.
Khoản vay 2: Theo hợp đồng tín dụng hạn mức thấu chi số 211/22/HĐTD/1203-9007 ngày 14/6/2022; vay số tiền 300.000.000 đồng, mục đích vay chi chi phục vụ đời sống; thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 10,6%/năm, lãi quá hạn 150% lãi trong hạn, lãi chậm trả lãi 10%/năm, hình thức thanh toán: gốc trả cuối kỳ, lãi trả 01/lần theo dư nợ thực tế (định kỳ vào ngày 5 hàng tháng).
Khoản vay 3: Theo hợp đồng tín dụng từng lần số 249.02/21/HĐTD/1203-9007 ngày 01/6/2022; vay số tiền 1.500.000.000 đồng, mục đích vay bổ dung vốn vựa lúa; thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 10,6%/năm, lãi quá hạn 150% lãi trong hạn, lãi chậm trả lãi 10%/năm, hình thức thanh toán: gốc trả cuối kỳ, lãi trả 04 tháng/lần theo dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Khoản vay 4: Theo hợp đồng tín dụng từng lần số 357/21/HĐTD/1203-9007 ngày 31/8/2021; vay số tiền 380.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng phục vụ đời sống; thời hạn vay 48 tháng, lãi suất 12%/năm, lãi quá hạn 150% lãi trong hạn, lãi chậm trả lãi 10%/năm, hình thức thanh toán: gốc phân thành 16 kỳ, mỗi kỳ cách nhau 3 tháng, số tiền gốc mỗi kỳ phải trả 23.750.000 đồng, lãi 03 tháng/lần trên dư nợ gốc.
Các hợp đồng thế chấp gồm:
- + Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 249/21/HĐTC-BĐS/1203-9007 ngày 01 tháng 6 năm 2021; Hợp đồng thế chấp sửa đổi bổ sung số 249/21/HĐTC-BĐS/1203-9007 ngày 01 tháng 6 năm 2021 – [1] ngày 31 tháng 8 năm 2021; đảm bảo khoản vay được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K1 – Chi nhánh A – P với ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K có chứng thực (công chứng) tại Phòng C, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 01/6/2021;
- + Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 259/21/HĐTC-BĐS/1203-9007 ngày 07 tháng 6 năm 2021, đảm bảo khoản vay được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K1 – Chi nhánh A với ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K có chứng thực (công chứng) tại Phòng C, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 07/6/2021;
Tài sản thế chấp đảm bảo nợ vay gồm:
- + Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: DB 225501, số vào sổ CS00762 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 19/02/2021, diện tích 771,5m², thửa số 83, tờ bản đồ 46, mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn 668,2m², đất trồng cây lâu năm 103,3m²; thời hạn sử dụng: đất ở tại nông thôn: lâu dài; đất trồng cây lâu năm: đến ngày 28/7/2053, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang, tài sản đứng tên ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K. Tài sản thế chấp trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai-Chi nhánh T4 ngày 07/6/2021.
- + Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành: CX 293096, số vào sổ CS05019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 21/7/2020, diện tích 441m², thửa số 40, tờ bản đồ số 46; mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn 399,4m², đất trồng cây lâu năm 41,6m²; thời hạn sử dụng: đất ở tại nông thôn: lâu dài; đất trồng cây lâu năm: đến ngày 28/7/2053, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang, tài sản đứng tên ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K. Tài sản thế chấp trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai-Chi nhánh T4 ngày 01/6/2021.
- + Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành: BM 104583, số vào sổ CH01350 do UBND huyện T cấp ngày 06/5/2013, diện tích 119,9m², thửa số 42, tờ bản đồ số 46; mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn; thời hạn sử dụng: lâu dài, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang, tài sản đứng tên ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K. Tài sản thế chấp trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai-Chi nhánh T4 ngày 01/6/2021.
- + Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành: BM 104290, số vào sổ CH01351 do UBND huyện T cấp ngày 12/4/2013, diện tích 230,6m², thửa số 110, tờ bản đồ số 46; mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn 142m²; đất trồng cây lâu năm 88,6m²; thời hạn sử dụng: đất ở: lâu dài, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang, tài sản đứng tên ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K. Tài sản thế chấp trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai-Chi nhánh T4 ngày 01/6/2021.
- + Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành: BX 273373, số vào sổ CH01969 do UBND huyện T cấp ngày 25/12/2014, diện tích 5724m², thửa số 356, tờ bản đồ số 12; mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa nước; tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang, tài sản đứng tên ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K. Tài sản thế chấp trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai-Chi nhánh T4 ngày 01/6/2021.
- + Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành: CX 288968, số vào sổ CS00098 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 31/7/2020, diện tích 10302m², thửa số 390, tờ bản đồ số 12; mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa nước; thời hạn sử dụng đến hết ngày 15/10/2063; tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang, tài sản đứng tên ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K. Tài sản thế chấp trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai-Chi nhánh T4 ngày 01/6/2021.
- + Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành: BX 717234, số vào sổ CH02706 do UBND huyện T cấp ngày 11/5/2015, diện tích 2146m², thửa số 710, tờ bản đồ số 12; mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa nước; tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang, tài sản đứng tên ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K. Tài sản thế chấp trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai-Chi nhánh T4 ngày 01/6/2021.
Trong quá trình vay vốn, ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K liên tục vi phạm hợp đồng, không thanh toán nợ cho Ngân hàng khi đến hạn, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo nhắc nhở và ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K cũng nhiều lần cam kết nhưng không thực hiện đúng cam kết và hiện tại hợp đồng đã quá hạn thanh toán nhưng ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K vẫn chưa thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng như thỏa thuận tại hợp đồng đã ký. Tại đơn khởi kiện, Ngân hàng yêu cầu ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K có nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 05/5/2023 là 4.339.721.259 và tiền lãi phát sinh từ ngày 6/5/2023 trên dư nợ gốc theo mức thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ; duy trì Hợp đồng thế chấp số 249/21/HĐTC-BĐS/1203-9007 ngày 01/6/2021; Hợp đồng thế chấp số 249/21/HĐTC-BĐS/1203-9007 ngày 01/6/2021-[1] ngày 31/8/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K1 – Chi nhánh A với ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K; trường hợp ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K không trả nợ hoặc trả không dứt nợ trong khoảng thời gian thỏa thuận hoặc khi bản án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng.
Quá trình giải quyết vụ án, tại Biên bản ghi lời khai ngày 16/11/2023, bị đơn là ông Huỳnh Văn T2 trình bày:
Thống nhất với trình bày của nguyên đơn về số tiền vay, tài sản thế chấp và đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng đề nghị cho thêm thời gian để thương lượng với Ngân hàng về phương thức thanh toán.
Bị đơn là bà Đoàn Thị Thúy K vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K trả cho Ngân hàng tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 7/6/2024 là 5.240.264.167 đồng (trong đó gốc là 3.880.000.000 đồng; lãi là: 1.360.264.167 đồng). Yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ sau ngày 07/6/2024 trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng K1.
Bị đơn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 7/6/2024 là 5.240.264.167 đồng (trong đó gốc là 3.880.000.000 đồng; lãi là: 1.360.264.167 đồng); tiếp tục tính lãi phát sinh từ sau ngày 07/6/2024 trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ; tiếp tục duy trì các hợp đồng thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
Về án phí và chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng và án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ngân hàng TMCP K1 yêu cầu ông Huỳnh Văn T2, bà Đoàn Thị Thúy K thanh toán nợ cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và các khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, bị đơn không có đăng ký kinh doanh nên xác định tranh chấp dân sự và quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Ngân hàng TMCP K1 do ông Trần Ngọc M chức vụ Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật. Ông Trần Ngọc M ủy quyền cho ông Lê Trung V (Theo Quyết định số 275/QĐ-NHKL ngày 18/01/2023). Ông Lê Trung V ủy quyền lại cho các ông: Danh Thảo, Bùi Vĩnh T, Phạm Đông X, Trần Thanh V1, Nguyễn Khoa H (Theo Quyết định số 510/QĐ-NHKL ngày 24/02/2024. Thủ tục ủy quyền trên là phù hợp với quy định tại các Điều 85 và 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận việc các ông: Danh Thảo, ông Bùi Vĩnh T, ông Phạm Đông X, ông Trần Thanh V1, ông Nguyễn Khoa H tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo nội dung văn bản ủy quyền.
Bị đơn là ông Huỳnh Văn T2, bà Đoàn Thị Thúy K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
[3] Về nội dung tranh chấp:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp xác định:
Ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K đã ký kết các hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP K1 vay tổng số tiền 4.180.000.000 đồng. Hợp đồng được thể hiện dưới hình thức văn bản, trong đó thể hiện rõ số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất, phương thức thanh toán, quyền và nghĩa vụ của các bên, tuân thủ về phạm vi hoạt động, quy định về lãi suất theo Điều 90, 91 của Luật các tổ chức tín dụng, có ký xác nhận thể hiện sự tự nguyện của các bên, mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, các hợp đồng tín dụng có hiệu lực theo Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Quá trình vay, ông T2 bà K có thanh toán được một phần nợ gốc 300.000.000 đồng nhưng không đúng thời hạn, liên tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên tính đến thời điểm xét xử ngày 7/6/2024 còn nợ gốc là 3.880.000.000 đồng. Tiền lãi gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi tạm tính đến ngày 7/6/2024 là 1.360.264.167 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, ông Huỳnh Thanh T3 thừa nhận nợ theo yêu cầu của Ngân hàng nhưng do tình hình kinh tế khó khăn nên hiện tại chưa thanh toán được nợ. Ngân hàng cũng có làm việc với bà Đoàn Thị Thúy K vào ngày 11/3/2024 và bà K cũng cam kết trả nợ. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 7/6/2024 là 5.240.264.167 đồng.
[3.2] Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 249/21/HĐTC-BĐS/1203-9007 ngày 01/6/2021; Hợp đồng thế chấp số 249/21/HĐTC-BĐS/1203-9007 ngày 01/6/2021-[1] ngày 31/8/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K1 – Chi nhánh A với ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K thấy rằng: Hợp đồng thể hiện dưới hình thức văn bản, có công chứng và có đăng ký thế chấp theo quy định nên phát sinh hiệu lực.
Do ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên nguyên đơn yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp số 249/21/HĐTC-BĐS/1203-9007 ngày 01/6/2021; Hợp đồng thế chấp số 249/21/HĐTC-BĐS/1203-9007 ngày 01/6/2021-[1] ngày 31/8/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K1 – Chi nhánh A với ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
[4] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải hoàn lại chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho nguyên đơn.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 227, 228, 271, 273, 278 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 90, 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ các Điều 117, 319, 323, 357, 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP K1. Buộc bị đơn là ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K1 số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 07/6/2024 là 5.240.264.167 (Năm tỷ hai trăm bốn mươi triệu hai trăm sáu mươi bốn nghìn một trăm sáu mươi bảy) đồng (trong đó gốc là 3.880.000.000 đồng; lãi là: 1.360.264.167 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 07/6/2024), ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K còn phải tiếp tục chịu lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp số 249/21/HĐTC-BĐS/1203-9007 ngày 01/6/2021; Hợp đồng thế chấp số 249/21/HĐTC-BĐS/1203-9007 ngày 01/6/2021-[1] ngày 31/8/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K1 – Chi nhánh A với ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
3. Về chi phí tố tụng: Chi phi xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 (Hai triệu) đồng, Ngân hàng TMCP K1 đã nộp xong. Ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP K1 số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Văn T2 và bà Đoàn Thị Thúy K phải chịu 113.240.264 (Một trăm mười ba triệu hai trăm bốn mươi nghìn hai trăm sáu mươi bốn) đồng. H1 lại cho Ngân hàng TMCP K1 tiền tạm ứng án phí đã nộp 56.170.000 (Năm mươi sáu triệu một trăm bảy mươi nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012115 ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Mỹ Linh |
Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 58/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
