|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST
Ngày 07-5-2024
Về việc: “Không công nhận quan hệ vợ chồng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Công Định.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Đăng Mạnh
Bà Vũ Thị Mai.
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 07/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 70/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/02/2024 việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/4/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Vũ Minh Đ, sinh năm 1966 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Bà Lê Thị C, sinh năm 1971 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 14/3/2024, nguyên đơn ông Vũ Minh Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Lê Thị C kết hôn với nhau vào năm 1988, trước khi cưới ông bà có sự tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau ngày cưới hai vợ chồng chung sống cùng với nhau tại thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hạnh phúc. Đến khoảng đầu năm 2021 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Nay xét thấy vợ chồng tình nghĩa không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên ông đề nghị Toà án giải quyết không công nhận ông và bà Lê Thị C là vợ chồng.
Về con chung: Ông và bà Lê Thị C có 03 con chung là Vũ Văn C1, sinh năm 1990; Vũ Văn X, sinh năm 1995 và Vũ Văn T, sinh năm 1997, hiện tất cả các con đã trưởng thành và phát triển bình thường và đã lập gia đình riêng nên ông không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Ông và bà Lê Thị C tự thoả thuận nên không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại phiên toà hôm nay ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn bà Lê Thị C trình bày: Bà xác nhận về thời điểm kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng như ông Đ trình bày là đúng. Ngoài ra, ông Đ thường xuyên tụ tập rượu chè và có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Nay bà cũng xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nhưng bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Minh Đ.
Về con chung: Bà xác nhận con chung như ông Đ trình bày là đúng, con chung đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Trong quá trình giải quyết vụ án bà không yêu cầu Toà án giải quyết mà để hai bên tự thoả thuận với nhau. Tại phiên toà hôm nay bà yêu cầu ông Đ chia tài sản chung của vợ chồng cho bà là 07 sào đất và trả bà 100.000.000 đồng.
Tại biên bản xác minh ngày 12/4/2024, UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang cung cấp: Tại Ủy ban nhân dân xã T chỉ còn lưu sổ đăng ký kết hôn từ năm 1999 trở lại đây, còn trước năm 1999 không còn lưu trữ. Việc ông Đ, bà C thừa nhận việc không đăng ký kết hôn mà chỉ tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương là đúng. Sau khi luật hôn nhân gia đình năm 2000 có hiệu lực, Ủy ban nhân dân xã T đã tuyên truyền cho những trường hợp không đăng ký kết hôn từ sau ngày 03/01/1987 đến khi luật hôn nhân gia đình năm 2000 có hiệu lực tuy nhiên vợ chồng ông Đ, bà C không đăng ký kết hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự nguyên đơn, bị đơn chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 9; Điều 14; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 11, Điều 87 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Minh Đ: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Vũ Minh Đ và bà Lê Thị C.
Ngoài ra đại điện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Vũ Minh Đ khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với bà Lê Thị C, bà Lê Thị C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28,
Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Minh Đ và bà Lê Thị C tự nguyện tìm hiểu và bắt đầu chung sống cùng nhau từ ngày 08/11/1987 (âm lịch), không đi đăng ký kết hôn. Tuy việc chung sống giữa ông Đ và bà C là hoàn toàn tự nguyện, nhưng đến nay các bên vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Tại điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết”. Ngoài ra, ông Đ, bà C đều thừa nhận trong cuộc sống hàng ngày hai bên có mâu thuẫn không thể hàn gắn. Căn cứ Điều 11, Điều 87 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX xác định có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Do đó, HĐXX xác định hôn nhân giữa ông Vũ Minh Đ và bà Lê Thị C là hôn nhân không hợp pháp nên không được pháp luật công nhận.
[2.2] Về con chung: Ông Vũ Minh Đ và bà Lê Thị C đều xác định các con chung đều đã trưởng thành và lập gia đình riêng nên ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, công nợ: Ông Vũ Minh Đ không yêu cầu Toà án giải quyết. Tại phiên toà hôm nay, bà Lê Thị C yêu cầu chia tài sản. Trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi mở phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải bà C và ông Đ tự thoả thuận với nhau về tài sản không yêu cầu Toà án giải quyết. Tại phiên toà bà C yêu cầu chia tài sản là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu do đó HĐXX không xem xét giải quyết về tài sản chung của ông Đ và bà C trong vụ án này. Bà C có quyền yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung của ông Đ, bà C bằng vụ án khác.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc ông Vũ Minh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0005981 ngày 21/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 11, Điều 87 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000;
Căn cứ Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Minh Đ:
- Quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận ông Vũ Minh Đ và bà Lê Thị C là vợ chồng.
- Về án phí: Ông Vũ Minh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0005981 ngày 21/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Công Định |
Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng
