Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/DS-ST

Ngày: 06-6-2024

V/v tranh chấp: “ Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Kiều Thu.
  2. Ông Nguyễn Bính .

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Giang Ngọc Hà –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa:

Bà Trương Thị Mỹ Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 58/2021/TLST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2021 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST–DS ngày 15 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 259/2024/QÐST-DS ngày 09/5/2024, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1983.

Địa chỉ nơi cư trú: 258/10, Phan Đình P, Phường A, Quận P, thành phố Hồ Chí Minh.

*Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1981.

Địa chỉ nơi cư trú: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận;

Nguyên đơn có mặt; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/3/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:

Ngày 31/10/2019 bà Nguyễn Thị Thu T có vay tôi số tiền 02 tỷ đồng, khi vay tiền tôi và bà T đã lập Hợp đồng vay tiền công chứng số 19717, Quyển số 10 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/10/2019 tại Văn phòng C, phường F, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh (Sau đây gọi tắt là Hợp đồng vay 02 tỷ đồng).

Theo thỏa thuận tại hợp đồng, thời hạn vay 02 tỷ đồng là 01 năm, từ ngày 31/10/2019 đến ngày 31/10/2020, lãi suất thỏa thuận là 01%/tháng; Mục đích vay tiền: tiêu dùng cá nhân, không nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình bên vay.

Thực hiện hợp đồng vay, ngày 31/10/2019 tôi đã lần lượt chuyển khoản đủ số tiền vay 02 tỷ đồng cho bà T vào tài khoản của bà T tại Ngân hàng TMCP K (02 lần chuyển khoản mỗi lần 01 tỷ đồng ).

Theo thỏa thuận tại hợp đồng, đến ngày 31/10/2020 bà T phải thanh toán tiền vay cả gốc và lãi cho tôi, nhưng bà T đã không thanh toán, tôi đã nhiều lần gọi điện thoại yêu cầu trả nợ, nhưng từ tháng 8/2020 đến nay bà T vẫn không liên hệ trả nợ cho tôi, thậm chí còn tố cáo tôi ra cơ quan cảnh sát điều tra Quận C, thành phố Hồ Chí Minh về hành vi cho vay nặng lãi, nhưng thực tế tôi và bà T là bạn học, ngoài khoản vay nêu trên còn cùng nhau góp vốn kinh doanh bất động sản, tôi chưa bao giờ tính lãi suất cho bà T với mức 15%/tháng.

Từ tháng 11/2019 cho đến hiện nay bà T đã trả tiền lãi của số tiền vay nêu trên cho tôi bằng phương thức, khấu trừ vào số tiền tôi góp vốn cùng với bà T mua đất. Tổng cộng tiền lãi bà T đã trả cho tôi là 300 triệu đồng, cụ thể: từ 11/2019 cho đến tháng 7/2020 bà T trả cho tôi được 09 tháng tiền lãi với mức lãi suất 01%/ tháng x 09 tháng = 180 triệu đồng; Từ tháng 8 /2020 cho đến hiện nay bà T trả thêm cho tôi được 120 triệu đồng tiền lãi.

Ngoài khoản tiền lãi đã trả nêu trên bà T chưa trả thêm cho tôi bất cứ khoản tiền gốc và lãi nào từ khoản vay nêu trên cả.

Về số tiền bà T chuyển khoản cho tôi theo tài liệu Tòa án sao kê từ Ngân hàng TMCP K ( từ sau ngày vay tiền là tháng 11/2019 – đến ngày tháng 7/2020) tổng cộng 2.580.000.000₫ đó là khoản tiền bà T chuyển trả cho tôi từ việc góp vốn kinh doanh bất động sản và trả cho các khoản tiền mà tôi đã chuyển khoản cho bà T từ tháng 10/2019 cho đến tháng 6/2020 là 8.532.000.000đ, số tiền này nằm trong khoản vay bà T vay tôi 06 tỷ đồng theo Hợp đồng vay tiền số công chứng 010772, Quyển số 05 ngày 27 /05/2020 tại văn phòng công chứng C, phường F, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh( chuyển tiền trước làm Hợp đồng vay sau để hợp thức hóa khoản tiền đã chuyển).

Do vậy nay tôi yêu cầu tòa án giải quyết:

-Buộc bà Nguyễn Thị Thu T phải trả cho tôi khoản tiền vay gốc là 02 tỷ đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/10/2019 cho đến ngày Tòa án giải quyết xét xử vụ án, với mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng vay là 12%/năm. Có khấu trừ khoản tiền lãi 300 triệu đồng bà T đã trả cho tôi từ tháng 11/2019 cho đến hiện nay vào khoản tiền lãi bà T phải trả cho tôi tính đến ngày Tòa án xét xử giải quyết vụ án .

Kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án giải quyết xét xử vụ án bà T vẫn phải tiếp tục trả cho tôi khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng vay là 12%/năm.

*Tại bản tự khai đề ngày 29/3/2021 Bị đơn - Bà Nguyễn Thị Thu T trình bày :

Ngày 31/10/2019 tôi có vay bà Nguyễn Thị Mỹ L khoản tiền 02 tỷ đồng, lãi suất thỏa thuận là 15%/tháng tương đương tiền lãi phải trả là 300.000.000đ/tháng; Sau khi thỏa thuận thống nhất tôi với bà L đã ký kết Hợp đồng vay tiền có công chứng chứng thực số 19717, Quyển số 10 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/10/2019 tại Văn phòng C, phường F, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên nội dung lãi suất 01%/tháng tại hợp đồng vay tiền này chỉ là giả tạo, nhằm mục đích hợp thức hóa lãi suất theo đúng quy định pháp luật để được công chứng hợp đồng;

Từ tháng 11/2019 đến tháng 3/2020 tôi đã chuyển trả tiền lãi cho bà L mỗi tháng 300 triệu đồng x 05 tháng = 1, 5 tỷ đồng.

Đến ngày 25/5/2020 tôi đã chuyển cho bà L số tiền 300 triệu đồng nhưng bà L không trừ vào nợ gốc mà tính đó là trả tiền lãi.

Đến ngày 03/7/2020 tôi tiếp tục chuyển cho bà L số tiền 240 triệu đồng nhưng bà L không trừ vào nợ gốc mà tính đó là trả tiền lãi.

Như vậy tổng cộng tôi đã chuyển cho bà L 2.040.000.000đ nhưng bà L xác định đó là tiền lãi đã trả với mức lãi suất 15%/tháng, sau đó hạ còn 10%/tháng, mà không trừ khoản tiền đã trả này vào nợ gốc.

Do tôi và bà L đang tranh chấp, không thống nhất về mức lãi suất thỏa thuận cho vay, do đó căn cứ quy định tại khoản 02 điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, đề nghị áp dụng mức lãi suất là 10%/năm, do đó lãi suất theo đơn khởi kiện của bà Linh t từ tháng 8/2020 đến tháng 3/2021 là: 02 tỷ đồng x 0,83%/tháng x 07 tháng = 116.200.000₫ ; Tiền lãi tôi đã trả dôi ra so với mức lãi suất theo quy định pháp luật là 2.040.000.000₫ - 116.200.000đ = 1.923.800.000₫ ; Số tiền lãi này phải được trừ vào nợ gốc, do vậy số tiền tôi phải trả cho bà L cụ thể là: 2.000.000.000₫ - 1.923.800.000₫ = 76.200.000đ.

Ngày 05/3/2021 tôi đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H nhận đơn tố cáo của tôi đối với bà L về vấn đề cho vay lãi nặng của khoản vay 02 tỷ đồng trong vụ kiện này và cho vay khoản tiền khác nên đề nghị Tòa án tạm đình chỉ vụ án chờ kết quả điều tra theo trình tự thủ tục tố tụng Hình sự ;

Trường hợp Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án thì đề nghị trừ tiền lãi suất tôi đã trả vượt mức lãi suất theo quy định pháp luật vào nợ gốc và xác định số tiền nợ tôi phải trả cho bà L còn lại là 76.200.000₫.

*Tòa án đã hai lần tiến hành tống đạt, niêm yết thông báo mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không tiến hành hòa giải được do Bị đơn không đến tham dự phiên hòa giải.

*Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề xuất ý kiến về việc giải quyết nội dung vụ án như sau:

Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, tiến hành các thủ tục thu thập chứng cứ và tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng đúng theo quy định Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Các thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa có mặt đúng thành phần trong quyết định xét xử và đã tuân thủ đúng các quy định Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Về phía người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng và thực hiện đầy đủ các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; Bị đơn có nhận thông báo thụ lý vụ án, nộp bản tự khai, nhưng sau đó không hợp tác, không liên hệ với Tòa án để thực hiện đầy đủ quyền và nghị vụ của mình theo quy định pháp luật, tại phiên tòa hôm nay Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, theo quy định tại điểm b khoản 02 điều 227 và khoản 03 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xet xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị Thu T phải trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ L khoản tiền vay gốc là 02 tỷ đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/11/2019 cho đến ngày Tòa án giải quyết xét xử vụ án, với mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng vay là 12%/năm. Khấu trừ số tiền lãi bà T đã trả cho bà L là 300 triệu đồng, vào tiền nợ lãi phát sinh.

+ Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm dân sự do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến của nguyên đơn, Bị đơn ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

* Về Pháp luật tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ do Nguyên đơn cung cấp xét thấy: Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án phát sinh từ hợp đồng vay tài sản (tiền), đây là “ Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự”. Đồng thời địa chỉ nơi cư trú của bị đơn cũng tại thành phố P; Do vậy vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố P, theo quy định tại khoản 03 điều 26, điểm a khoản 01 điều 35, điểm a khoản 01 điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về vấn đề Bị đơn- bà Nguyễn Thị Thu T đề nghị tòa án thành phố Phan thiết tạm đình chỉ vụ án do bà đang tố giác bà Nguyễn thị Mỹ L1 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Quận C, thành phố Hồ Chí Minh về hành vi cho vay nặng lãi;

Tuy nhiên theo kết quả xác minh của tòa án tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Quận C, thì bà T đang tố giác bà L1 về nhiều khoản vay khác trong đó có khoản vay đang tranh chấp trong vụ kiện và hiện cơ quan Cảnh sát điều tra Quận C đang tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin tội phạm theo Quyết định số 59 ngày 17/9/2021. Như vậy việc tố giác của bà T cũng chưa được kết luận xác định là bà L1 có cho vay nặng lãi hay không.

Đồng thời nội dung này cũng đã được bà T trình bày ý kiến trong quá trình tòa án thụ lý giải quyết nội dung yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản của Nguyên đơn, nên vấn đề bà L1 có cho vay nặng lãi đối với bà T hay không, sẽ được Tòa xem xét giải quyết trong vụ kiện dân sự này, không cần thiết phải tạm đình chỉ vụ án để chờ kết quả giải quyết nguồn tin tố giác tội phạm từ cơ quan Cảnh sát điều tra Quận C như bà T đả yêu cầu.

[3] Về thủ tục xét xử vắng mặt Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, đã được Tòa án cấp, tống đạt văn bản tố tụng theo địa chỉ do Nguyên đơn cung cấp tại đơn khởi kiện, đồng thời cũng là địa chỉ của Bị đơn thể hiện trên Hợp đồng vay tài sản, tại phiên tòa hôm nay Bị đơn vắng mặt lần thứ hai, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, theo quy định tại điểm b khoản 02 điều 227 và khoản 03 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về áp dụng pháp luật: Giao dịch dân sự các bên đương sự tranh chấp trong vụ kiện, được giao kết thực hiện, sau thời điểm Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực pháp luật (01/01/2017), nên được áp dụng quy định tại Bộ luật dân sự 2015 và các văn bản hướng dẫn Bộ luật dân sự 2015 để giải quyết nội dung tranh chấp.

* Về giải quyết nội dung tranh chấp:

[1] Xét về hình thức, nội dung Hợp đồng vay tiền số công chứng 19717, Quyển số 10 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/10/2019:

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do Nguyên đơn cung cấp, tài liệu do Tòa án sao kê từ Ngân hàng, bản tự khai trình bày ý kiến của Nguyên đơn, Bị đơn, cho thấy :

Nguyên đơn – Bị đơn đều khai thống nhất : Ngày 31/10/2019 bà Nguyễn Thị Mỹ L đã cho bà Nguyễn Thị Thu T vay khoản tiền 02 tỷ (hai tỷ) đồng theo Hợp đồng vay tiền số công chứng 19717, Quyển số 10 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/10/2019 tại Văn phòng C, phường F, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Thực hiện hợp đồng vay tiền bà Mỹ L đã chuyển khoản toàn bộ khoản tiền vay 02 tỷ đồng cho bà Thu T ngay trong ngày 31/10/2019; Đây là những vấn đề các đương sự khai thống nhất với nhau và phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập có tại hồ sơ, do vậy đủ cơ sở kết luận sự việc bà L cho bà T vay số tiền 02 tỷ đồng là có thật, Hợp đồng vay tiền được các bên tham gia ký kết một cách tự nguyện và có công chứng, chứng thực nên đảm bảo về mặt hình thức;

Về nội dung: Theo nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng vay tiền số công chứng 19717, thì số tiền vay 02 tỷ đồng này bà L cho bà T vay thời hạn là 01 năm từ ngày 31/10/2019 đến ngày 31/10/2020, lãi suất thỏa thuận là 01%/tháng, Mục đích vay tiền : tiêu dùng cá nhân, không nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình bên vay .Như vậy đây là hợp đồng vay tiền có thời hạn và có thỏa thuận về lãi suất, nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng phù hợp quy định pháp luật tại Điều 463, khoản 01 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên tham gia hợp đồng theo quy định pháp luật.

[2] Về việc thực hiện hợp đồng vay tiền:

Ngay khi ký kết hợp đồng vay tiền, bà Nguyễn Thị Mỹ L đã chuyển đủ số tiền vay 02 tỷ đồng cho bà Nguyễn Thị Thu T (theo sao kê từ Ngân hàng TMCP K1), tuy nhiên khi đến hạn thanh toán là ngày 31/10/2020, bên vay chưa thanh toán trả nợ, nên bà L đã khởi kiện, như vậy bên vay đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 465 Bộ luật dân sự.

Về phía bên vay tiền - Bà Nguyễn Thị Thu T khai mức lãi suất thỏa thuận hợp đồng vay tiền 02 tỷ đồng là giả tạo, bà T khai bà phải trả cho bà L lãi suất 15%/tháng. Từ 31/10/2019 đến 03/7/2020 bà đã chuyển trả cho bà L khoản tiền lãi tổng cộng là: 2.040.000.000đ tại Ngân hàng TMCP K (sau đây gọi tắt là Ngân hàng). Do vậy bà T đề nghị áp dụng mức lãi suất quy định tại khoản 02 điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 là 10%/năm, và khấu trừ khỏan tiền lãi bà đã trả dôi ra so với mức lãi suất pháp luật qui định, vào nợ gốc.

Tuy nhiên Nguyên đơn- bà L không chấp nhận lời khai này của bà T và bà khai: mức lãi suất cho vay theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng vay là 01%/tháng = 12%/năm;

Như vậy các bên khai không thống nhất với nhau về mức lãi suất; Bà T cho rằng lãi suất vay thỏa thuận là từ 10-15%/tháng nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc bà đã trả lãi cho bà L với mức lãi suất từ 10-15%/tháng; Các tài liệu sao kê từ Ngân hàng TMCP K do bà T cung cấp, là bản photo, có nội dung sao kê không phù hợp với tài liệu Nguyên đơn cung cấp và cũng không phù hợp với tài liệu tòa án sao kê từ Ngân hàng theo Quyết định cung cấp chứng cứ số 17 ngày 03/8/2023 và đã được Ngân hàng cung cấp theo công văn số 69-2023/KDDG-TCB ngày 08/8/2023.

Theo tài liệu sao kê từ Ngân hàng TMCP K ( tài liệu do Tòa án thu thập) cho thấy: trong khoảng thời gian, từ ngày 22/11/2019 cho đến ngày 03/7/2020( ngày cuối cùng các bên thực hiện giao dịch), giữa bà Nguyễn Thị Mỹ L và bà Nguyễn Thị Thu T nhiều lần chuyển rất nhiều khoản tiền cho nhau,, tổng cộng khoản tiền bà T chuyển cho bà L là: 2.580.000.000đ, chi tiết giao dịch chuyển khoản không được bà T xác định rõ là chuyển khoản cho giao dịch gì, đồng thời số tiền bà T chuyển cũng không khớp với mức tính lãi suất 10-15%/tháng như bà T đã khai nại, các khoản tiền bà T chuyển cho bà L cũng trong thời gian chưa đến hạn thanh toán gốc và lãi theo hợp đồng vay tiền 02 tỷ đồng mà các bên đã ký kết.

Mặt khác cũng theo tài liệu sao kê từ Ngân hàng TMCP K (tài liệu do Tòa án thu thập), cho thấy: Từ ngày16/10/2019 cho đến 12/6/2020, ngòai khoản vay 02 tỷ đồng, bà L đã chuyển rất nhiều khoản tiền cho bà T, trong đó có ghi rõ nội dung chuyển cho bà T mượn, tổng số tiền bà L chuyển khoản cho bà T ngòai khoản vay hai tỷ đồng là 7.580.000.000đ. Đồng thời bà L có cung cấp Hợp đồng vay tiền 06 tỷ đồng số công chứng 010772, quyển số 05 ngày 27/5/2020 bà T đã ký kết với bà L tại Văn phòng C1, phường F, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy lời khai của bà L về vấn đề các khoản tiền bà T chuyển cho bà L thể hiện trên sao kê Ngân hàng, là bà T chuyển cho bà L từ các khoản vay khác và giao dịch góp vốn kinh doanh bất động sản, không liên quan đến hợp đồng vay hai tỷ đồng là có cơ sở để xem xét.

Đối với việc bà T khai cho rằng bà T đã chuyển cho bà L tổng cộng là 2.040.000.000₫, để trả tiền lãi cho hợp đồng vay 02 tỷ đồng, là không phù hợp với tài liệu sao kê Ngân hàng nên không có căn cứ chấp nhận.

Xét thấy bà T đã ký kết hợp đồng vay tiền 02 tỷ đồng, có công chứng chứng thực, trong đó có quy định rõ mức lãi suất là 01%/tháng = 12%/năm, nhưng lại không chấp nhận mức lãi suất này, và cho rằng có tranh chấp về lãi suất và đề nghị áp dụng mức lãi suất theo quy định tại khoản 02 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, là 0,83%/tháng; Yêu cầu tính lãi suất của bà trong trường hợp này là không phù hợp với nội dung quy định của điều luật, cụ thể :

Tại khoản 02 điều 468 Bộ luật dân sự 2015 đã quy định rõ “ Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 01 của điều luật này”.

Như vậy theo thỏa thuận tại Điều 3 Hợp đồng vay tiền số công chứng 19717, thì lãi suất vay trong trường hợp này đã được các bên thỏa thuận xác định rõ là 01%/tháng. Mức lãi suất này không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 01 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 (20%/năm); Do vậy yêu cầu của Nguyên đơn buộc bị đơn phải trả tiền lãi của số tiền vay 02 tỷ đồng với mức 01 %/tháng là có căn cứ chấp nhận; Yêu cầu của bị đơn – bà T phải áp dụng mức lãi suất là 0,83%/tháng trong trường hợp này là không phù hợp với nội dung quy định của điều luật, nên không có căn cứ chấp nhận.

[3] Như vậy từ những phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở để xác định:

Ngày 31/10/2019 bà Nguyễn Thị Mỹ L đã cho bà Nguyễn Thị Thu T vay khoản tiền 02 tỷ( hai tỷ) đồng theo Hợp đồng vay tiền số công chứng 19717, với mức lãi suất thỏa thuận là 01%/tháng, bà L đã thực hiện nghĩa vụ của bên cho vay chuyển đủ tiền vay cho bà T từ ngày 31/10/2019, nhưng đến kỳ hạn thanh toán bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho L theo thỏa thuận tại Hợp đồng ; Do vậy yêu cầu khởi kiện của bà L buộc bà T phải trả toàn bộ số nợ vay gốc là 02 tỷ đồng kèm lãi suất theo thỏa thuận tại Hợp đồng, là có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 01, khoản 05 Điều 466, Điều 468, khoản 02 điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Theo bà L khai : Từ tháng 11/2019 cho đến hiện nay bà T đã trả cho bà L 300 triệu đồng tiền lãi, bằng phương thức trừ dần vào khoản tiền giao dịch góp vốn kinh doanh mua bán đất trong đó bà T đã trả tiền lãi từ tháng 11/2019 cho đến tháng 7/2019 là 180 triệu đồng, từ tháng 8/2020 cho đến nay đã trả được 120 triệu đồng tiền lãi; Quá trình giải quyết vụ án bà T đã nhận thông báo thụ lý vụ án, biết được nội dung khởi kiện của bà L, cung cấp bản khai, nhưng bà T không liên hệ với Tòa án để đối chất làm rõ các nội dung về việc trả lãi. Do vậy căn cứ quy định tại khoản 04 điều 9 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do Nguyên đơn – bà L cung cấp: Ghi nhận việc bà L xác định bà T đã trả tiền lãi cho bà L từ tháng 11/2019 cho đến nay đã trả tiền lãi tổng cộng cộng là 300 triệu đồng ;

Như vậy: Số tiền lãi bà T phải trả cho bà Linh t từ ngay vay tháng 11/2019 đến ngày giải quyết xét xử vụ án (tính chẵn là đến tháng 5/2024 ) : 55 tháng x 02 tỷ x 01%/tháng = 1.100.000.000₫ – 300.000.000₫ ( tiền lãi bà T đã trả theo lời khai bà L) = 800.000.000₫.

Tổng cộng khoản tiền gốc và lãi bà T phải trả cho bà Linh t đến ngày giải quyết xét xử sơ thẩm là 2, 8 tỷ đồng;

Về vấn đề bà L yêu cầu T phải chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng là 12%/năm, là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 01 điều 13 Nghị Quyết 01/2019 ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án tối cao nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận, nên Bị đơn, phải chịu án phí, theo quy định tại khoản 01 điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cụ thể số tiền án phí bà Nguyễn Thị Thu T phải nộp là 72.000.000đ + (800.000.000 đ x 02%) = 88.000.000₫ .

Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Mỹ L số tiền tạm ứng án phí là 37.600.000₫ (Ba mươi bảy triệu sáu trăm nghìn đồng), bà L đã nộp theo biên lai số 004227 ngày 10/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/Căn cứ vào các quy định: Điều 357, Điều 463, khoản 01, khoản 05 Điều 466, Điều 468, khoản 02 điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 01 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Luật thi hành án dân sự.

2/ Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn- Bà Nguyễn Thị Mỹ L:

[1.1] Về tiền vay gốc: Tuyên buộc bà Nguyễn Thị Thu T phải trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ L số tiền vay gốc là 02 (hai) tỷ đồng, theo Hợp đồng vay tiền số công chứng 19717, Quyển số 10 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/10/2019 tại Văn phòng C, phường F, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh;

[1.2] Về tiền lãi: Ghi nhận việc bà Nguyễn Thị Mỹ L xác định: Từ tháng 11/2019 cho đến hiện nay bà Nguyễn Thị Thu T đã trả tiền lãi số tiền vay gốc nêu trên tổng cộng là 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng.

Tuyên buộc bà Nguyễn Thị Thu T phải tiếp tục trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ L khoản tiền lãi chưa trả của số tiền vay gốc 02 tỷ đồng nêu trên, tính từ tháng 11/2019 đến ngày giải quyết xét xử vụ án tháng 5/2024 (Không tính lãi thời điểm từ 01/6 đến 06/6/2024 ), cụ thể là : 55 tháng x 02 tỷ x 01%/tháng = 1.100.000.000₫ – 300.000.000đ ( tiền lãi bà T đã trả theo lời khai bà L) = 800.000.000₫ .

[1.3] Tổng cộng khoản tiền gốc và tiền lãi tuyên buộc bà Nguyễn Thị Thu T phải trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ L, tính đến ngày giải quyết xét xử sơ thẩm (06/6/2024) tổng cộng là: 2.800.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm triệu đồng);

[1.4] Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (07/6/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng vay tiền là 01%/tháng

[2] Về án phí sơ thẩm:

2.1. Bà Nguyễn Thị Thu T phải nộp số tiền án phí sơ thẩm dân sự là: 88.000.000₫ (T1 mươi tám triệu đồng).

2.2. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Mỹ L số tiền tạm ứng án phí là 37.600.000đ, bà L đã nộp theo biên lai số 004227 ngày 10/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

[3] Án xử sơ thẩm công khai có mặt Nguyên đơn, vắng mặt Bị đơn. Quyền kháng cáo bản án của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Quyền kháng cáo của Bị đơn là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -Tòa án Tỉnh;
  • - VKS Tp.Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS TP. Phan Thiết;
  • - Đương sự;
  • -Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Như Xuân

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 58/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger