Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/KDTM-ST

Ngày: 04/6/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trúc Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Đình Thức
  • 2. Bà Phạm Thị Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Hiền, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 96/2023/TLST-KDTM ngày 13/10/2023 về “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-KDTM ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH E

Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V số F N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Y (có mặt).

- Bị đơn: Công ty TNHH V

Địa chỉ: Số A đường G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Bà Thái Thị Thanh K (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Nguyên đơn Công ty TNHH E có người đại diện theo ủy quyền là bà Lê Thị Y trình bày:

Ngày 26/05/2021, Công ty TNHH E (sau đây gọi tắt là “Công ty ESVN”) và Công ty TNHH V (sau đây gọi tắt là Công ty V) đã ký kết Hợp đồng hợp tác đào tạo Tiếng Anh số VS-200621-GVNN-DTP (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng”). Theo thỏa thuận, Công ty V có trách nhiệm tìm kiếm và cung cấp giáo viên nước ngoài để giảng dạy tiếng Anh cho học sinh tại các trường do Công ty E1 bố trí.

Số lượng giáo viên: 10 giáo viên (theo Hợp đồng là 05 giáo viên Philipines. Sau đó, vào ngày 08/06/2021 Công ty E1 và Công ty V đã ký thêm Phụ lục hợp đồng để điều chỉnh số lượng giáo viên bao gồm 07 giáo viên P và 03 giáo viên C).

Mức phí Hợp đồng: 23.000.000 đồng/1 tháng/1 giáo viên.

Phí đặt cọc tuyển dụng: 30.000.000 đồng/1 giáo viên. Phí này được trừ vào công nợ lương tháng đầu tiên của giáo viên.

Thời hạn Hợp đồng: Hợp đồng có giá trị 12 tháng kể từ ngày ký.

Ngày 14/6/2021, Công ty E1 đã chuyển phí đặt cọc tuyển dụng cho Công ty V với tổng số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) vào tài khoản 72536809 - Ngân hàng TMCP Á (A) của Công ty V theo Uỷ nhiệm chi số 1030321061163155 ngày 14/06/2021 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C (V1).

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty V đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ, không đảm bảo cung cấp đầy đủ số lượng giáo viên trong thời hạn Công ty E1 yêu cầu. Cụ thể, theo quy định tại Khoản 4.2 Điều 4 Hợp đồng quy định trách nhiệm của Bên B như sau: “Đảm bảo thời gian cung cấp giáo viên nước ngoài sau 03 tháng kể từ ngày Bên A ký hợp đồng và đặt cọc phí tuyển dụng”. Tuy nhiên, Công ty E1 đã không yêu cầu Công ty V hoàn trả phí đặt cọc và bồi thường theo thỏa thuận tại Khoản 4.2 Điều 4 Hợp đồng. Thay vào đó, Công ty E1 đã đồng ý để Công ty V tiếp tục thực hiện Hợp đồng và cấn trừ dần số tiền đặt cọc nêu trên.

Đến Tháng 03/2022 Công ty V mới bắt đầu cung cấp giáo viên nước ngoài để giảng dạy theo giờ tại các Trường theo yêu cầu của Công ty E1 với phí dịch vụ cụ thể như sau: Phí dịch vụ Tháng 03/2022: 46.155.200 đồng (Đã cung cấp hóa đơn hợp lệ - Hóa đơn giá trị gia tăng số 00000015 ngày 22/06/2022); P1 dịch vụ Tháng 04/2022: 17.264.800 đồng (Đã cung cấp hóa đơn hợp lệ - Hóa đơn giá trị gia tăng số 00000015 ngày 22/06/2022);

Ngày 24/06/2022, đại diện Công ty E1 và Công ty V đã ký “Biên bản cấn trừ công nợ” xác nhận Công ty V sẽ cấn trừ phí dịch vụ tháng 03/2022 và tháng 04/2022 vào số tiền đặt cọc cho Công ty E1 tổng số tiền là 63.420.000 đồng (Sáu mươi ba triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng). Công ty V xác nhận số tiền cọc còn lại phải trả Công ty E1 là 236.580.000 đồng (Hai trăm ba mươi sáu triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).

Ngày 05/7/2022, đại diện Công ty E1 và Công ty V đã ký “Biên bản xác nhận nợ và cấn trừ công nợ”, theo đó Công ty V cam kết sẽ thanh toán 50% số nợ còn lại tương đương số tiền là 118.290.000 đồng (Một trăm mười tám triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) trước ngày 30/07/2022 và 50% số nợ còn lại sẽ được cấn trừ khi Công ty E1 sử dụng dịch vụ của Công ty V phát sinh sau ngày 05/07/2022.

Sau đó, Công ty V tiếp tục cung cấp giáo viên nước ngoài cho tháng 10/2022 và tháng 11/2022 với phí dịch vụ cụ thể như sau: Phí dịch vụ tháng 10/2022: 56.000.000 đồng (Chưa cung cấp hóa đơn hợp lệ); P1 dịch vụ tháng 11/2022: 21.233.333 đồng (Chưa cung cấp hóa đơn hợp lệ);

Công ty E1 đã nhiều lần liên hệ, thông báo Công ty V nghiệm thu và cung cấp hóa đơn giá trị gia tăng hợp lệ cho phí dịch vụ tháng 10/2022 và tháng 11/2022. Tuy nhiên đến ngày 24/5/2023, đại diện của Công ty V đã thông báo cho đại diện của Công ty E1 qua tin nhắn Zalo rằng Công ty V đã tuyên bố phá sản nên không thể xuất được hóa đơn. Sau khi tra cứu trạng thái hoạt động của Công ty V trên trang web tra cứu thông tin người nộp thuế của T1, Công ty E1 nhận thấy Công ty V vẫn còn đang hoạt động, do đó Công ty E1 không chấp nhận lý do mà Công ty V đưa ra để không thực hiện nghĩa vụ của mình.

Ngày 03/07/2023, Công ty E1 đã gửi Công văn số 125/2023/CV-ESVN về việc đề nghị hoàn cọc theo Hợp đồng số VS-200621-GVNN-DTP, yêu cầu Công ty V cung câp hóa đơn hợp lệ cho phí dịch vụ Tháng 10/2022, Tháng 11/2022 và hoàn trả tiền cọc còn lại cho Công ty E1.

Tuy nhiên, đã quá thời hạn cho phép (trước 17 giờ ngày 07/07/2023) nhưng Công ty E1 vẫn chưa nhận được văn bản trả lời hay bất kỳ động thái thiện chí nào từ phía Công ty V, đồng thời Công ty V còn nhiều lần trốn tránh trả lời các email, tin nhắn hay các thông báo, văn bản từ phía Công ty E1.

Nhận thấy, Công ty V có dấu hiệu trốn tránh nghĩa vụ hoàn trả tiền cọc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty E1. Vì vậy, Công ty E1 đã khởi kiện yêu cầu Công ty V hoàn trả số tiền cọc còn lại và thanh toán số tiền lãi do chậm trả với số tiền như sau: Số tiền đặt cọc còn lại tương ứng 236.580.000 đồng (Hai trăm ba mươi sáu triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng). Tiền lãi do chậm thanh toán: Tiền lãi chậm thanh toán của 50% số tiền đặt cọc còn nợ, tương đương 118.290.000 đồng tính từ ngày 01/08/2022 tạm tính đến hết ngày 04/06/2024 là: 118.290.000 x 0,027% x 673 (ngày) = 21.810.732 đồng (Hai mươi mốt triệu tám trăm mười nghìn bảy trăm ba mươi hai đồng); T lãi chậm thanh toán của 50% số tiền đặt cọc còn lại, tương đương 118.290.000 đồng tính từ ngày 08/07/2023 tạm tính đến ngày 04/06/2024 là: 118.290.000 x 0,027% x 332 (ngày) = 10.759.529 đồng (Mười triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn năm trăm hai mươi chín đồng); Tổng tiền lãi chậm thanh toán mà Công ty V phải thanh toán cho Công ty E1 tạm tính đến hết ngày 04/6/2024 là 32.570.260 đồng (Ba mươi hai triệu năm trăm bảy mươi nghìn hai trăm sáu mươi đồng).

Bị đơn TNHH V vắng mặt:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

  • * Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • * Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Công ty TNHH E.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và nghe ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hợp đồng mà hai bên ký kết, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là quan hệ tranh chấp hợp đồng dịch vụ phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa hai công ty có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Do bị đơn có trụ sở tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn:

Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hòa giải và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Giấy triệu tập đương sự, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà cho bị đơn là Công ty TNHH V và người người đại diện theo pháp luật theo quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng Công ty TNHH V và người người đại diện theo pháp luật vẫn vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt Công ty TNHH V và người người đại diện theo pháp luật theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu của các đương sự:

- Về yêu cầu thanh toán số tiền gốc và lãi của nguyên đơn:

Xét Hợp đồng hợp tác đào tạo Tiếng Anh số VS-200621-GVNN-DTP ngày 26 tháng 5 năm 2021 thể hiện thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385, Điều 401 và Điều 472 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Xét, trong quá trình thực hiện Hợp đồng dịch thì Công ty TNHH V đã vi phạm Hợp đồng nên Công ty E1 khởi kiện yêu cầu Công ty V hoàn trả số tiền cọc còn lại là 236.580.000 đồng (Hai trăm ba mươi sáu triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng). Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ như Hợp đồng hợp tác đào tạo Tiếng Anh số VS-200621-GVNN-DTP, Biên bản cấn trừ công nợ, hóa đơn giá trị gia tăng thể hiện Công ty V còn nợ Công ty E1 số tiền 236.580.000 đồng. Do đó căn cứ vào Điều 87 Luật thương mại 2005 chấp nhận chấp nhận yêu cầu của Công ty E1.

Xét yêu cầu tính lãi của Công ty E1, Công ty E1 yêu cầu Công ty V thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán: Tiền lãi chậm thanh toán của 50% số tiền đặt cọc còn nợ, tương đương 118.290.000 đồng tính từ ngày 01/08/2022 tạm tính đến hết ngày 04/06/2024 là: 118.290.000 x 0,027% x 673 (ngày) = 21.810.732 đồng (Hai mươi mốt triệu tám trăm mười nghìn bảy trăm ba mươi hai đồng); T lãi chậm thanh toán của 50% số tiền đặt cọc còn lại, tương đương 118.290.000 đồng tính từ ngày 08/07/2023 tạm tính đến ngày 04/06/2024 là: 118.290.000 x 0,027% x 332 (ngày) = 10.759.529 đồng (Mười triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn năm trăm hai mươi chín đồng); Tổng tiền lãi chậm thanh toán mà Công ty V phải thanh toán cho Công ty E1 tạm tính đến hết ngày 04/6/2024 là 32.570.260 đồng (Ba mươi hai triệu năm trăm bảy mươi nghìn hai trăm sáu mươi đồng).

Hội đồng xét xử xét thấy, theo thỏa thuận tại tại Khoản 4.2 Điều 4 Hợp đồng quy định trách nhiệm của Bên B như sau: “Đảm bảo thời gian cung cấp giáo viên nước ngoài sau 03 tháng kể từ ngày Bên A ký hợp đồng và đặt cọc phí tuyển dụng”. Tuy nhiên, Công ty E1 đã không yêu cầu Công ty V hoàn trả phí đặt cọc và bồi thường theo thỏa thuận tại Khoản 4.2 Điều 4 Hợp đồng. Công ty E1 yêu cầu Công ty V trả tiền lãi chậm trả lãi tính đến ngày 04 tháng 6 năm 2024, 10%/năm là có lợi cho Công ty V nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Buộc Công ty V có nghĩa vụ trả tiền lãi chậm trả cho Công ty E1 là 32.570.260 đồng.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì Công ty V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho Công ty E1 là 269.150.260 đồng, do đó án phí Công ty V phải chịu là 13.457.500 đồng.

Hoàn trả cho Công ty E1 số tiền tạm ứng án phí là 5.914.500 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 85, Điều 87 và Điều 306 Luật thương mại 2005;

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH E:

    Buộc Công ty TNHH V có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH E số tiền theo Hợp đồng hợp tác đào tạo Tiếng Anh số VS-200621-GVNN-DTP ngày 26 tháng 5 năm 2021 là 269.150.260 (Hai trăm sáu mươi chín triệu một trăm năm mươi ngàn hai trăm sáu mươi) đồng, trong đó số tiền gốc là 236.580.000 đồng (Hai trăm ba mươi sáu triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng), số tiền lãi là 32.570.260 đồng (Ba mươi hai triệu năm trăm bảy mươi nghìn hai trăm sáu mươi đồng).

    Thời hạn thanh toán: Một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    - Công ty TNHH V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 13.457.500 (Mười ba triệu bốn trăm năm mươi bảy ngàn năm trăm) đồng.

    - Hoàn trả cho Công ty TNHH E số tiền tạm ứng án phí 5.914.500 đồng (Năm triệu chín trăm mười bốn ngàn năm trăm) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006860 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - Lưu VP, hồ sơ./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Trúc Lý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/KDTM-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 58/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger