|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2024/HS-PT Ngày: 23/9/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Hòa
Ông Ngô Xuân Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Thân Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 96/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Sỹ T do có kháng cáo của bị cáo T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HSST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
* Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Sỹ T, sinh năm 1970; nơi thường trú: thôn Á, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Sỹ T1, sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1948; gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ là Phạm Thị Đ, sinh năm 1985 và có 05 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt truy nã, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2023; hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Sỹ T:
Bà Vũ Thị T2 - Luật sư thuộc Công ty L - Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
* Bị hại:
Anh Nguyễn Trung S, sinh năm 1980; trú tại: Số F, khu G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có mặt tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Sỹ T1, sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1948 (bố, mẹ T);
- Chị Phạm Thị Đ, sinh năm 1985 (vợ T);
Đều trú tại: thôn Á, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Nguyễn Hữu B1, sinh năm 1983 - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Cán bộ Trại tạm giam - Công an tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH T5 Đ1 (gọi tắt là Công ty T5 Đ1) do Nguyễn Sỹ T là Giám đốc thành lập ngày 04/5/2011. Tháng 11/2011 Công ty T5 Đ1 có mua và đăng ký 02 xe ô tô tải nhãn hiệu Faw, biển kiểm soát: 99C - 009.15 và 99C - 009.21 để sử dụng vào mục đích kinh doanh vận tải.
Từ ngày 06/12/2011 đến ngày 13/5/2012, Nguyễn Sỹ T đã vay, nợ tiền của nhiều người trong đó có người thân trong gia đình và bạn bè để trả tiền mua xe ô tô kinh doanh vận tải như: Trả lương, chi phí sửa chữa, tiền lãi của các khoản vay...tháng 8/2012, Nguyễn Sỹ T phải trốn nợ sang Trung Quốc, T còn nợ của mọi người khoảng 4.000.000.000đ. Những khoản vay, nợ của người nhà, bạn bè Sỹ T đã thỏa thuận được với họ cho trả dần nên những người này không làm đơn tố giác. Anh Nguyễn Trung S đã làm đơn tố giác Sỹ T có hành vi chiếm đoạt tài sản của anh S.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Anh Nguyễn Trung S là cán bộ Ngân hàng N (H), Chi nhánh thị xã T. Năm 2011, T có vay vốn của Ngân hàng H và có quen biết anh S. Đầu tháng 12/2011, do cần vốn để kinh doanh nên T hỏi vay anh S số tiền 500.000.000đ. Không đủ tiền nên anh S rủ vợ chồng anh Phạm Anh T3, sinh năm 1980 (bạn cùng học với anh S) và chị Nguyễn Thị Bích T4, sinh năm 1982, đều trú tại: Số C, ngõ F, N, phường N, quận L, Hà Nội góp tiền để cho T vay. Anh S góp 100.000.000đ, vợ chồng anh T3, chị T4 góp 400.000.000đ.
Nguyễn Sỹ T trình bày: Anh S đồng ý cho T vay tiền với lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay 03 tháng, 10 ngày trả lãi một lần với số tiền 25.000.000đ. Anh S yêu cầu hợp thức hóa việc vay tiền bằng hợp đồng mua bán 02 chiếc xe ô tô tải BKS: 99C - 009.21 và BKS: 99C - 009.15 với giá 500.000.000đ bên bán là Công ty Anh Đ1 và bên mua là chị T4. Chị T4 ký hợp đồng cho Công ty T5 Đ1 thuê lại 02 chiếc xe ô tô tải nêu trên với giá thuê 75.000.000đ/1 tháng tương ứng với khoản tiền lãi của số tiền 500.000.000đ, thời hạn thuê xe là 03 tháng tương ứng với thời hạn cho vay.
Ngày 06/12/2011, T đến gặp vợ chồng anh S, chị T4 rồi đến Phòng công chứng số B tỉnh Bắc Ninh để ký Hợp đồng mua bán xe ô tô và Hợp đồng cho thuê xe ô tô với thỏa thuận như trên. T đưa cho anh S 02 bản gốc đăng ký xe ô tô, anh S đưa cho T 500.000.000đ, anh S cắt luôn 25.000.000đ tiền lãi từ ngày 06/12/2011 đến ngày 15/12/2011. Tiền lãi từ ngày 16/12/2011 đến ngày 04/01/2012, T đưa tiền mặt cho anh S mỗi lần 25.000.000đ. Tiền lãi từ ngày 05/01/2012 đến ngày 15/01/2012, T chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng H của anh S. Sau đó, anh S yêu cầu T trả lãi bằng tiền mặt.
Tháng 3/2012, khi hết hạn hợp đồng vay tiền và phải trả số tiền 500.000.000đ nhưng T không có khả năng trả số tiền trên. T gặp anh S, thỏa thuận với anh S để T bán 02 chiếc xe ô tô nêu trên lấy tiền trả 500.000.000đ. Anh S đồng ý đưa 02 đăng ký xe bản gốc để T đi làm thủ tục bán xe.
Ngày 17/3/2012, T đại diện Công ty T5 Đ1 ký hợp đồng mua bán 02 chiếc xe ô tô BKS: 99C - 009.21 và BKS: 99C - 009.15 cho Công ty TNHH X (Công ty X) với giá 1.350.000.000đ. Công ty X đã thanh toán trước cho cho T 500.000.000đ. Ngày 23/3/2012 T đã chuyển số tiền 400.000.000đ vào tài khoản của anh S tại Ngân hàng H.
Ngoài khoản vay 500.000.000đ nêu trên, Nguyễn Sỹ T còn có 02 lần cùng vợ là Phạm Thị Đ đến nhà anh S vay tổng số tiền 220.000.000đ, cụ thể:
Ngày 17/01/2012, Nguyễn Sỹ T và vợ là Phạm Thị Đ vay anh S 100.000.000đ, thời hạn vay 01 tháng. Ngày 13/5/2012, T và chị Đ vay anh S 120.000.000đ, không có thời hạn, khi nào anh S cần thì T phải thanh toán. Hai giấy vay tiền đều không thể hiện lãi suất, tuy nhiên, T trình bày vay có lãi, lãi suất là 5.000đ/1 triệu/1 ngày. Khoảng tháng 7/2012, T vay thêm anh S số tiền 40.000.000đ nhưng anh S không đồng ý.
Về việc trả nợ gốc, nợ lãi, Nguyễn Sỹ T khai nhận như sau: Đối với khoản vay 500.000.000đ: T khai đã trả đủ lãi theo thỏa thuận. Về số nợ gốc 500.000.000đ: Ngày 23/3/2012, Sỹ T đã chuyển khoản trả số tiền 400.000.000đ vào tài khoản Ngân hàng H của anh S và chuyển khoản số tiền 90.000.000đ vào tài khoản của anh T3 ở Ngân hàng V hoặc T6, còn nợ anh S 10.000.000đ tiền gốc. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tài khoản của anh T3 tại Ngân hàng V, T6 tuy nhiên không có việc Sỹ T chuyển 90.000.000đ vào tài khoản của anh T3.
Đối với khoản vay ngày 17/01/2012 và ngày 13/5/2012 tổng số 220.000.000đ, T khai đã trả nợ gốc và lãi của số tiền 100.000.000đ, còn khoản vay 120.000.000đ chưa trả được gốc, tiền lãi không nhớ đã trả được bao nhiêu tháng.
Anh Nguyễn Trung S khai: Cuối năm 2011, do T có nhu cầu bán xe, T đến gặp anh S nhờ bán giúp 02 chiếc xe ô tô BKS: 99C - 009.21 và BKS: 99C - 009.15. Do không đủ tiền mua xe nên anh S rủ bạn là Phạm Anh T3 chung tiền mua. Anh T3 góp số tiền 400.000.000đ, anh S góp số tiền 100.000.000đ. Do anh S góp ít tiền hơn nên hai bên đã thỏa thuận để chị Nguyễn Thị Bích T4 (vợ anh T3) đứng tên hợp đồng mua bán xe ô tô. Ngày 06/12/2011, anh S, chị T4 và T đến Phòng công chứng số 02 tỉnh Bắc Ninh để ký hợp đồng mua bán 02 chiếc xe ô tô với giá 500.000.000đ. Do không có nhu cầu sử dụng xe ô tô, chị T4 đã ký hợp đồng cho Công ty T5 Đ1 thuê lại 02 xe ô tô nêu trên, thời hạn thuê 03 tháng, giá thuê là 75.000.000đ/1 tháng. Sau khi ký 2 hợp đồng trên, anh S, chị T4 đã giao cho T số tiền 500.000.000đ, anh S giữ 02 bản gốc đăng ký xe ô tô. Khoảng 1 - 2 tháng sau, do anh T3 cần sử dụng tiền nên anh S đã trả cho anh T3 số tiền 400.000.000đ mà anh T3, chị T4 đã góp để mua xe. Chị T4 có lập giấy ủy quyền cho anh S toàn quyền sử dụng, định đoạt 2 xe ô tô trên.
Ngoài ra, T còn vay của anh S 03 lần tổng số tiền 260.000.000đ, cụ thể: ngày 17/01/2012, vay số tiền 100.000.000đ; ngày 13/5/2012, vay số tiền 120.000.000đ (có viết giấy) và 01 lần vào tháng 7/2012 vay 40.000.000đ (không viết giấy vay nợ).
Về lãi suất: Hỗ trợ T làm ăn kinh tế, nếu T kinh doanh tốt thì sẽ thỏa thuận lãi sau.
Tháng 02/2012, T mượn của anh S 02 bản gốc đăng ký xe ô tô để đi đăng kiểm lại và ký hợp đồng vận tải tại tỉnh Quảng Ninh. Sau đó, anh S nhiều lần đòi T giấy tờ gốc đăng ký xe nhưng không trả.
Về việc trả nợ gốc, nợ lãi: Hiện tại, Anh S1 không nhận được 02 chiếc xe ô tô T đã bán cho anh S1 nên T còn nợ anh S1 số tiền 500.000.000đ liên quan đến hợp đồng mua bán 02 xe ô tô và 260.000.000đ tiền vay, tổng cộng là 760.000.000đ. Về việc trả nợ: Nguyễn Sỹ T chưa trả được khoản nợ gốc nào trong số nợ trên, chưa trả được khoản tiền thuê xe nào. Về trả lãi: T đã trả được lãi của khoản vay 220.000.000đ đến tháng 6/2012. Anh S1 không tính lãi đối với khoản vay tháng 7/2012 của số tiền 40.000.000đ.
Do có mâu thuẫn trong lời khai của anh Nguyễn Trung S và Nguyễn Sỹ T, Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng anh S và T vẫn giữ nguyên lời khai của mình.
Trên cơ sở kết quả điều tra có căn cứ xác định số tiền Nguyễn Sỹ T đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Trung S như sau: Về hợp đồng mua bán xe ô tô chị T4 và anh T3 đều khai nhận phù hợp với lời khai của Nguyễn Sỹ T. Chị T4, anh T3 không có quan hệ gì với T. Do vậy có thể xác định đây là hợp đồng vay nợ: Anh S và anh T3, chị T4 cho T vay số tiền 500.000.000đ. Anh S đã trả 400.000.000đ cho anh T3, chị T4. Do vậy, xác định Nguyễn Sỹ T vay của anh S số tiền 500.000.000đ.
Về việc T vay anh S số tiền 260.000.000đ: T thừa nhận 02 lần vay anh S, cụ thể: ngày 17/01/2012, vay số tiền 100.000.000đ và ngày 13/5/2012 vay số tiền 120.000.000đ, tổng là 220.000.000đ, vay có giấy tờ, do vậy có căn cứ xác định có khoản vay 220.000.000đ. Đối với số tiền 40.000.000đ không có giấy tờ, T không thừa nhận nên không có đủ chứng cứ xác định có khoản vay này.
Như vậy, có căn cứ xác định Nguyễn Sỹ T đã vay anh Nguyễn Trung S tổng số tiền là 720.000.000đ.
Về việc trả nợ, do các bên mâu thuẫn trong lời khai, căn cứ vào chứng cứ là sao kê những lần chuyển khoản của Nguyễn Sỹ T và vợ là chị Phạm Thị Đ chuyển khoản cho anh S tại Ngân hàng H của anh S, cụ thể:
- Ngày 05/01/2012, chị Đ chuyển khoản cho anh S 25.000.000đ.
- Ngày 10/2/2012, chị Đ chuyển khoản cho anh S 50.000.000đ.
- Ngày 23/3/2012, Sỹ T chuyển khoản cho anh S 400.000.000đ.
- Ngày 03/4/2012, Sỹ T chuyển khoản cho anh S 20.000.000đ.
- Ngày 06/6/2012, chị Đ chuyển khoản cho anh S 15.000.000đ.
- Ngày 13/7/2012, chị Đ chuyển khoản cho anh S 32.000.000đ.
Tổng cộng, vợ chồng Nguyễn Sỹ T đã chuyển khoản cho anh S số tiền 542.000.000đ, trong đó 25.000.000đ trả lãi và 517.000.000đ trả gốc là phù hợp.
Vì vậy, Sỹ T chỉ còn nợ anh S số tiền 203.000.000đ. Tháng 8/2012, Sỹ T bỏ trốn sang Trung Quốc để chiếm đoạt của anh S số tiền 203.000.000đ.
Với nội dung trên, bản án số: 54/2024/HSST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố bị cáo Nguyễn Sỹ T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Sỹ T 05 năm tù, thời hạn tù kể từ ngày 20/7/2023.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/7/2024, bị cáo Nguyễn Sỹ T kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Sỹ T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội. Bị cáo xin khai lại đối với số tiền 25.000.000đ chuyển khoản cho anh S ngày 05/01/2012 là trả tiền gốc của khoản vay 500.000.000đ, không phải là tiền trả lãi. Do thời gian đã lâu nên bị cáo nhớ không đúng. Bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội bị cáo đã gây nên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại anh Nguyễn Trung S trình bày: Anh S thừa nhận số tiền T vay nợ, số tiền trả gốc như T đã trình bày tại phiên tòa hôm nay là đúng. Anh S cho T vay không lãi suất. Thực tế S cho T vay tổng số tiền là 720.000.000đ, T đã trả tiền gốc được 542.000.000đ, còn nợ anh 178.000.000đ. Sau khi xét xử sơ thẩm, mẹ đẻ thành là bà Nguyễn Thị B đã trả lại toàn bộ số tiền còn lại cho anh. Anh không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nữa và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho T.
Ông Nguyễn Sỹ T1, bà Nguyễn Thị B là bố mẹ bị cáo T trình bày: số tiền ông bà đã trả anh S thay T, ông bà không yêu cầu T phải trả lại số tiền trên. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Sỹ T, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có quan điểm như sau: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T và anh S đều xác định T chiếm đoạt của anh S số tiền 178.000.000đ, do T và anh S xác định số tiền 25.000.000đ chuyển khoản vào ngày 05/01/2012 là trả tiền nợ gốc, không phải trả lãi. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo và bị hại đều khai nhận số tiền 25.000.000đ là trả tiền lãi, không phải là tiền gốc, chỉ đến ngày 16/9/2024 gia đình bị cáo T bồi thường số tiền còn lại cho anh S, thì anh S mới thay đổi lời khai. Do vậy đại diện Viện kiểm sát không chấp nhận số tiền 25.000.000đ trả ngày 05/01/2012 là trả tiền gốc, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Anh S xác nhận T đã bồi thường toàn bộ nên đề nghị HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
Luật sư Vũ Thị T2 trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo T: Luật sư nhất trí với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố và Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, tuy nhiên trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo và bị hại khẳng định số tiền 25.000.000đ T trả anh S vào ngày 05/01/2012 là trả vào tiền gốc, không phải là tiền lãi như đã khai ở cấp sơ thẩm. Do vậy đến nay số tiền T chiếm đoạt của anh S tổng số là 178.000.000đ, đề nghị Hội đồng xét xử chuyển khung hình phạt xuống điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền còn lại cho bị hại, tại phiên tòa phúc thẩm bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, có bố là ông Nguyễn Sỹ T1 tham gia dân công hỏa tuyến. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đối đáp với Luật sư, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo T theo khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự. Đối với các tình tiết giảm nhẹ, bồi thường toàn bộ số tiền còn lại cho bị hại, có bố tham gia dân công hỏa tuyến, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo T đồng ý với quan điểm bào chữa của luật sư, đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Nguyễn Sỹ T có kháng cáo hợp lệ.
[2] Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Sỹ T có mặt hoàn toàn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 06/12/2011 đến ngày 13/5/2012, Nguyễn Sỹ T đã có hành vi vay nợ tiền của anh Nguyễn Trung S tổng số tiền là 720.000.000đ, cụ thể: Ngày 06/12/2011, vay 500.000.000đ; ngày 17/01/2012, vay 100.000.000đ và ngày 13/5/2012, vay 120.000.000đ. Hai bên đã trả gốc trả lãi cho nhau đến tháng 7/2012 T còn nợ anh S số tiền gốc là 203.000.000đ. Tháng 8/2012, T đã bỏ trốn sang Trung Quốc nhằm chiếm đoạt của anh S số tiền 203.000.000đ. Tại phiên tòa phúc thẩm, cả bị cáo và bị hại anh Nguyễn Trung S đều xác định, trong số tiền 203.000.000đ thì ngày 05/01/2012, T còn trả cho anh S 25.000.000đ là tiền gốc, không phải tiền trả lãi, nên thực tế anh T chỉ chiếm đoạt của anh S 178.000.000đ. Tuy nhiên, trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm bị cáo T và anh S đều khẳng định số tiền 25.000.000đ trả vào ngày 05/01/2012 là tiền lãi của khoản vay 500.000.000đ, không có lời khai nào khẳng định số tiền này trả vào tiền gốc, chỉ đến ngày 16/9/2024 sau khi anh S nhận lại toàn bộ số tiền do gia đình bị cáo bồi thường mới viết đơn xác định số tiền 25.000.000đ trả vào ngày 05/01/2012 là tiền gốc. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không thể chấp nhận theo đề nghị của bị cáo, bị hại, luật sư được, mà xác định số tiền T chiếm đoạt của anh S là 203.000.000đ, có đủ căn cứ để xét xử bị cáo theo khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của cá nhân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an tại địa phương. Hành vi đó phải bị xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Sỹ T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo đã tác dộng gia đình bồi thường toàn bộ số tiển bị cáo đã chiếm đoạt, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có bố tham gia dân công hỏa tuyến, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Sỹ T, sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo Điều 54 Bộ luật hình sự cũng đủ để giáo dục và răn đe.
Về trách nhiệm dân sự: Do anh S yêu cầu bị cáo T phải bồi thường số tiền 178.000.000đ. Ông T1, bà B là bố mẹ T đã tự nguyện bồi thường đầy đủ số trên.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Sỹ T không phải chịu án phí dân sự, hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Sỹ T, sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 347 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt: Nguyễn Sỹ T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2023.
Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Sỹ T 45 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Sỹ T phải bồi thường cho anh Nguyễn Trung S số tiền 178.000.000đ (Xác nhận ngày 16/9/2024, bà Nguyễn Thị B mẹ bị cáo T đã bồi thường cho anh S số tiền 128.000.000đ và ông Nguyễn Sỹ T1 bố bị cáo đã nộp 50.000.000đ tại biên lai thu số 0002302 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành).
- Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Sỹ T không phải chịu án phí dân sự, án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Đại |
Bản án số 58/2024/HS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 58/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Sỹ Th
