|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA Bản án số: 58/2025/HS-ST Ngày 30/5/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Quỳnh Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Ngọc Hùng.
- Bà Đoàn Thị Thúy.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Tòng Thanh Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2025/HSST ngày 11 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/QĐST-HS ngày 29/4/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 19/QĐST-HS ngày 14/5/2025 đối với:
- Bị cáo: Lò Văn S (tên gọi khác: Không), sinh ngày 08/7/1989 tại xã M, huyện T (nay là xã C, huyện Q), tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Bó Phúc, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể : Không; Con ông Lò Văn B, sinh năm 1968 và bà Lò Thị B1, sinh năm 1966; Bị cáo có vợ là Tòng Thị P, sinh năm 1990 và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Bản án số 62/HSST ngày 16/8/2013 bị Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Tại Bản án số 155/HSST ngày 06/11/2013 bị Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đã được xoá án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/11/2024, tạm giam từ ngày 28/11/2024 đến nay. Có mặt tại phiên toà.
* Các bị hại:
- Anh Lò Văn Đ, sinh năm 1996, địa chỉ: Bản P, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Anh Lò Văn L, sinh năm 1992, địa chỉ: Bản P, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Anh Lường Văn L1, sinh năm 1996, địa chỉ: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Anh Tòng Văn H, sinh năm 1996, địa chỉ: Bản T, xã M (nay là thị trấn T), huyện T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Văn C, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988, địa chỉ: Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Anh Lò Văn B2, sinh năm 1971, địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn M, huyện Q, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Anh Lường Văn Đ1, sinh năm 1975, địa chỉ: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Ông Lò Văn B, sinh năm 1968, địa chỉ: Bản B, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Chị Tòng Thị H1, sinh năm 1994, địa chỉ: Bản T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.
- Anh Lường Văn Đ2, sinh năm 1996, địa chỉ: Bản B, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Anh Lê Hoàng D, sinh năm 1969, địa chỉ: Tổ C, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Anh Phạm Mạnh Q, sinh năm 1974, địa chỉ: Tổ D, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn S (sinh năm 1989, trú tại bản B, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La) là đối tượng đã có 02 tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 06/4/2016, Lò Văn S chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương sinh sống. Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên trong thời gian từ ngày 11/01/2019 đến ngày 19/01/2019 S đã nhiều lần đưa thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 31/12/2018, Lò Văn S đi từ nhà đến phòng trọ của anh Lò Văn Đ (sinh năm 1996, trú tại bản Phiêng Lanh, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La) tại bản Dửn, xã C, thành phố S chơi. Siểng nhờ Đ thuê giúp 01 chiếc xe mô tô và nói dối là để làm phương tiện đi lại thì anh Đ đồng ý. Sau đó, S và anh Đ đến cửa hàng cho thuê xe mô tô Cường Thịnh tại bản Dửn, xã C, thành phố S của anh Lê Văn C (sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam) thuê 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius (không rõ đặc điểm, biển kiểm soát) rồi giao cho S cùng giấy tờ xe. S đã sử dụng để đi về nhà tại xã M, huyện T, tỉnh Sơn La. Đến khoảng 16 giờ ngày 01/01/2019, S đã điều khiển chiếc xe mô tô trên đến cửa hàng cầm đồ của anh Nguyễn Văn T (sinh năm 1988, trú tại tổ A, phường Q, thành phố S) bán với giá 5.000.000VNĐ sau đó chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 11/01/2019, Lò Văn S đến ăn cơm ở nhà bạn tại bản D, xã C, thành phố S. Tại đây, S gặp anh Lò Văn Đ, thấy anh Đ có xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển kiểm soát 26H1-019.92, S nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô và bảo anh Đ cho mượn xe mô tô, giấy tờ xe để đi lên Bệnh viện đa khoa tỉnh S thăm anh Lò Văn L (sinh năm 1992, trú tại bản Pom Sinh, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La) đang nằm viện xong sẽ mang xe về trả thì anh Đ đồng ý. Sau đó, S đã điều khiển chiếc xe mô tô trên đến cửa hàng cầm đồ của anh Nguyễn Văn T bán với giá 9.500.000VNĐ sau đó chi tiêu cá nhân hết.
Lần 2: Ngày 10/01/2019, Lò Văn S đi từ nhà đến phòng trọ của anh Lò Văn L (sinh năm 1992, trú tại bản Pom Sinh, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La) ở bản D, xã C, thành phố S chơi. Siểng thấy anh L có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 26B2-252.22, S nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô và bảo L cho mượn xe và giấy tờ để đi lấy đồ trên thành phố S xong sẽ mang xe về trả thì anh L đồng ý. Sau đó, S đã điều khiển chiếc xe mô tô trên đến cửa hàng cầm đồ của anh Nguyễn Văn T bán với giá 10.500.000VNĐ sau đó chi tiêu cá nhân hết.
Lần 3: Ngày 17/01/2019, Lò Văn S đi từ nhà đến phòng trọ của anh Lường Văn L1 (sinh năm 1996, trú tại bản Tà Sài, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La) ở bản D, xã C, thành phố S chơi. Siểng thấy anh L có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 26L1-030.84, S nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô và bảo L1 cho mượn xe và giấy tờ để đi lấy đồ trên thành phố S xong sẽ mang xe về trả thì anh L1 đồng ý. Sau đó, S đã điều khiển chiếc xe máy trên đến cửa hàng cầm đồ của anh Nguyễn Văn T bán với giá 17.000.000VNĐ sau đó chi tiêu cá nhân hết.
Lần 4: Ngày 19/01/2019 Lò Văn S đang ở nhà tại bản B, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La thì nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh Tòng Văn H (sinh năm 1996, tạm trú tại bản Dửn, xã C, thành phố S). S gọi điện thoại cho anh H nói dối rằng Siểng đi chơi ở huyện S, tỉnh Sơn La bị Cảnh sát giao thông kiểm tra, hỏi vay tiền anh H để nộp phạt nhưng do anh H không có tiền nên S bảo anh H mang xe mô tô đi cầm cố (H không nhớ tên quán, địa chỉ) để cho S vay số tiền 6.000.000VNĐ sau đó S sẽ chuộc xe mô tô về trả thì anh H đồng ý. Sau đó S ra phòng trọ của H tại bản Dửn, xã C, thành phố S lấy số tiền trên và sử dụng để chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 26/01/2019, anh Lò Văn L, Lò Văn Đ, Lường Văn L1, Tòng Văn H đã gửi đơn trình báo đến Cơ quan Công an để xác minh làm rõ Lò Văn S về hành vi trên.
Ngày 03/4/2019, 11/3/2019, 15/5/2019 anh Phạm Mạnh Q, Lường Văn Đ2 giao nộp 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 003425 của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 26L1-030.84, mang tên Lường Văn Đ1, trú tại: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 26L1-030.84; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô biển kiểm soát 26L1-030.84, số: [...]; 01 giấy bán xe ngày 26/3/2019 giữa Phạm Mạnh Q và Lường Văn Đ2 (bản gốc).
Ngày 22/3/2019 và ngày 24/5/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S ra Yêu cầu định giá tài sản đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng xanh, biển kiểm soát 26L1-030.84, tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 17/01/2019; xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đỏ đen, biển kiểm soát 26H1-019.92 tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 11/01/2019 và xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen, biển kiểm soát 26B2-252.22, tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 10/01/2019.
Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 13/KL-HĐĐGTS ngày 25/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S kết luận: Giá trị còn lại của xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, màu trắng xanh, BKS 26L1-030,84 là 15.000.000VNĐ.
Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 23/KL-HĐĐGTS ngày 05/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S kết luận: Giá trị còn lại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đỏ đen, biển kiểm soát 26H1-019.92 là 15.500.000VNĐ. Giá trị còn lại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen, BKS 26B2-252.22 là 20.000.000VNĐ.
Ngày 22/8/2024, anh Lường Văn L1 cung cấp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra 01 ảnh của Lò Văn S để phục vụ quá trình điều tra, xác minh theo quy định của pháp luật.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha S1 (không rõ đặc điểm, biển kiểm soát) do anh Lò Văn Đ thuê cho Lò Văn S, quá trình điều tra không xác định được xe mô tô trên hiện đang ở đâu, không thu thập được giấy tờ mua bán do đó không có căn cứ để xác định nguồn gốc, chủ sở hữu để đề nghị xử lý theo quy định.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 26L1-030.84, quá trình điều tra xác định là của anh Lường Văn Đ1, sinh năm 1975, trú tại bản Tà Sài, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (bố của anh Lường Văn L1). Sau khi mua lại xe mô tô trên từ L, ngày 30/01/2019, anh T đã bán chiếc xe mô tô cho anh Lê Hoàng D, sinh năm 1969, trú tại tổ C, phường T, thành phố S với giá 17.500.000 đồng, sau đó anh D đã bán lại xe mô tô trên cho người khác. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, anh T biết xe mô tô trên không phải của S mà của người khác nên đã trả lại số tiền 17.500.000 đồng cho anh Lê Hoàng D. Ngày 25/5/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 26L1-030.84, giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy chứng nhận bảo hiểm mang tên Lường Văn Đ1 cho anh L1 quản lý, sử dụng.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đỏ đen, biển kiểm soát 26H1-019.92 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là của anh Lò Văn B2, sinh năm 1971, trú tại tiểu khu B, thị trấn M, huyện Q, tỉnh Sơn La (bố của anh Lò Văn Đ) và xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen, biển kiểm soát 26B2- 252.22 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là của anh Lò Văn L, sinh năm 1992, trú tại bản Pom Sinh, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La. Sau khi anh Nguyễn Văn T mua lại 02 xe trên của Lò Văn S, anh T đã bán lại cho người khác (anh T không nhớ tên, địa chỉ). Ngày 31/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã ra Quyết định truy tìm đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đỏ đen, biển kiểm soát 26H1-019.92 và xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen, biển kiểm soát 26B2- 252.22 nhưng đến nay chưa tìm được.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiến hành làm việc với anh Nguyễn Văn T xác định các lần Lò Văn S đến bán xe mô tô Siểng đưa ra thông tin gian dối là xe mô tô của S mua lại từ người quen nên anh T tin tưởng mua lại xe mô tô sau đó bán lại cho người khác. Anh T không biết, không tham gia, do vậy Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý.
Về trách nhiệm dân sự:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen, biển kiểm soát 26B2- 252.22 của anh Lò Văn L, bị cáo Lò Văn S đã bồi thường số tiền 16.000.000VNĐ, anh L không có yêu cầu gì khác.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đỏ đen, biển kiểm soát 26H1-019.92 và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius mà anh Lò Văn Đ đã thuê rồi cho S mượn, bị cáo Lò Văn S và anh Đ thoả thuận, S sẽ phải bồi thường thiệt hại cho anh Đ tổng số tiền 36.000.000VNĐ. Đến nay S đã trả 27.000.000VNĐ, anh Đ yêu cầu Siểng trả số tiền còn lại là 9.000.000VNĐ.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng xanh, biển kiểm soát 26L1-030.84 của anh Lường Văn L1. Anh L1 đã nhận lại được xe nên không có yêu cầu gì khác.
Đối với số tiền 6.000.000VNĐ Siểng chưa bồi thường cho anh Tòng Văn H. Anh H đề nghị S trả đủ số tiền trên.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKSTP ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Lò Văn S về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn S từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, tạm giữ ngày 25/11/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về bồi thường dân sự: Chấp nhận yêu cầu của bị hại anh Lò Văn Đ buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lò Văn Đ 9.000.000đ (chín triệu đồng). Chấp nhận yêu cầu của anh Tòng Văn H yêu cầu S phải trả cho H số tiền 6.000.000đ. Bị cáo được miễn án phí do là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã M, huyện T, tỉnh Sơn La là xã có kinh tế đặc biệt khó khăn.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các Quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng; nhất trí với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát; nhất trí với bản luận tội cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phần tranh luận; bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành phố S, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên, Điều tra viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua xét hỏi bị cáo Lò Văn S khai nhận hành vi phạm tội của mình, qua lời nhận tội của bị cáo đối chiếu với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng và tài liệu xác minh thu giữ, bản ảnh vật chứng thu giữ, kết luận giám định, thông tin cung cấp của các cơ quan cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp. Hội đồng xét xử đã có cơ sở xác định: Lò Văn S đã đưa ra thông tin gian dối về việc mượn xe mô tô để sử dụng, bị Cảnh sát giao thông xử phạt để chiếm đoạt tài sản. Trong khoảng thời gian từ ngày 10/01/2019 đến ngày 19/01/2019, Lò Văn S đã chiếm đoạt của anh Lò Văn L, Lường Văn L1, Lò Văn Đ 04 chiếc xe mô tô tổng giá trị là 50.500.000VNĐ, chiếm đoạt của anh Tòng Văn H số tiền 6.000.000VNĐ. Xác định bị cáo Lò Văn S phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 56.500.000VNĐ; do đó bị cáo bị truy tố và xét xử về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, thuộc trường hợp nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, quyền sở hữu tài sản của cá nhân mà còn xâm phạm đến trật tự xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm minh bằng hình phạt với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe giáo dục đối với những người đang có ý định thực hiện hành vi tương tự. Đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm tại địa phương.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 04 bị hại, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015: Phạm tội 02 lần trở lên.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho các bị hại, do đó được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử 02 lần về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (đã được xoá án tích), nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nên cần có hình phạt tương xứng để bị cáo có thời gian cải tạo.
[5] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 147 và khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung là không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: căn cứ theo điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen, biển kiểm soát 26B2- 252.22 của anh Lò Văn L: HĐXX ghi nhận việc bị cáo Lò Văn S đã bồi thường số tiền 16.000.000 đồng cho anh Lò Văn L, anh L không có đề nghị gì thêm.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đỏ đen, biển kiểm soát 26H1-019.92 và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius mà anh Lò Văn Đ đã thuê rồi cho S mượn, ghi nhận sự thoả thuận của bị cáo và anh Đ: Buộc bị cáo S phải bồi thường thiệt hại cho anh Đ tổng số tiền 36.000.000đ, bị cáo S đã trả 27.000.000đ. HĐXX chấp nhận yêu cầu của anh Đ buộc bị cáo S phải trả số tiền còn lại là 9.000.000₫ cho anh Đ.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng xanh, biển kiểm soát 26L1-030.84 của anh Lường Văn L1. Anh L1 đã nhận lại được xe nên không có yêu cầu gì khác.
- Đối với số tiền 6.000.000VNĐ Siểng chưa bồi thường cho anh Tòng Văn H. HĐXX chấp nhận yêu cầu của anh H buộc bị cáo S phải trả số tiền 6.000.000₫ cho anh H.
- Đối với số tiền 17.000.000đ ông Lò Văn B (bố của bị cáo Lò Văn S) đã trả cho anh T, ông B không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền trên. HĐXX ghi nhận ý kiến của ông Lò Văn B.
Các bị hại, người liên quan còn lại không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, do đó HĐXX không xem xét, giải quyết.
[7] Đối với Nguyễn Văn T: Quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn T đã mua lại xe máy do bị cáo Lò Văn S mang đến bán. Tuy nhiên, anh T không biết nguồn gốc tài sản do bị cáo S phạm tội mà có nên không có dấu hiệu của tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Việc cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh Nguyễn Văn T là đúng quy định.
[8] Về việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra:
- Ngày 25/5/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 26L1-030.84, giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy chứng nhận bảo hiểm mang tên Lường Văn Đ1 cho anh L1 quản lý, sử dụng là đúng quy định.
[9] Về án phí: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Ghi nhận việc bị cáo Lò Văn S đã bồi thường số tiền 16.000.000 đồng cho anh Lò Văn L.
- Chấp nhận yêu cầu của anh Lò Văn Đ, buộc bị cáo Lò Văn S phải trả số tiền 9.000.000₫ cho anh Lò Văn Đ.
- Chấp nhận yêu cầu của anh Tòng Văn H, buộc bị cáo Lò Văn S phải trả số tiền 6.000.000đ cho anh Tòng Văn H.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/5/2025). Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
Xử phạt bị cáo Lò Văn S 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/11/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án và Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định.
Trong trường hợp được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hoàng Ngọc Hùng |
Đào Thị Quỳnh Trang |
|
Đoàn Thị Thuý |
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
- - Viện kiểm sát nhân dân TP Sơn La;
- - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La;
- - Chi cục THADS thành phố Sơn La;
- - Bị cáo; bị hại; NLQ;
- - Lưu hồ sơ; án văn.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
|
Đào Thị Quỳnh Trang |
Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)
- Số bản án: 58/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn S phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
