|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2025/HS-ST Ngày: 30/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Bùi Đức Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Thu Anh
ông Phạm Quốc Hưng
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hùng Vĩ, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Vũ Quang K; tên gọi khác: không; sinh ngày 29/9/2005; tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T và bà Ngô Thị D; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/01/2025, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Q - Phân trại tạm giam khu vực M, có mặt.
2. Phạm Quốc C; tên gọi khác: không; sinh ngày 09/12/2007; tại thành phố M, Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn D, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: học sinh lớp 12A, trường Trung học phổ thông L1, thành phố M; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 và bà Hà Thị B; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú ngày 10/01/2025, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” và “tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt.
Người bào chữa đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Quốc C: ông Phạm Văn T1, sinh năm 1981; nơi cư trú: thôn D, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do, là bố đẻ bị cáo, có mặt.
Đại diện nhà trường - Trường Trung học phổ thông L1: ông Ngô Ngọc C1 - Hiệu trưởng nhà trường; Người đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn Văn L - Giáo viên chủ nhiệm lớp 12A, trường Trung học phổ thông L1, thành phố M, có mặt.
- Người làm chứng: Phạm Văn T2, Nguyễn Thị N, đều vắng mặt.
- Người chứng kiến: Phạm Văn T3, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 11/2024, Phạm Quốc C lên mạng xã hội Youtube, Facebook tìm hiểu công thức chế tạo pháo hoa nổ. Sau khi biết cách chế tạo, C vào các trang mạng xã hội đặt mua nguyên liệu, dụng cụ như: KClO3, bột than củi, lưu huỳnh, cốc giấy, băng dính... về để chế tạo pháo. Sau đó, C đốt thử mấy quả thấy nổ, bắn lên cao và phát sáng. Trong một lần đi sinh nhật bạn, C mang theo một quả đi đốt và quen Vũ Quang K. Qua nói chuyện, K biết đây là pháo nổ do C tự chế tạo, nên K rủ C cùng chế tạo pháo nổ để bán kiếm lời. C đồng ý và thống nhất: C là người trực tiếp chế tạo pháo nổ, còn K tìm người mua; giá bán quả pháo nhỏ là 30.000đ/quả, quả pháo to là 110.000đ/quả; số tiền bán được, K sẽ chia cho C 40%. Thống nhất xong, K đưa cho C 1.000.000 đồng để C mua nguyên liệu về chế tạo pháo hoa nổ. Sau đó, C vào các trang mạng xã hội (không nhớ địa chỉ) đặt mua 500g lưu huỳnh, 02kg KClO3, 01 kg bột than, cốc giấy, nắp nhựa trong suốt, băng dính, cuộn màng bọc thực phẩm, cân điện tử, muôi thủng kim loại thủng...mang về chuồng lợn bỏ hoang của nhà C để chế tạo pháo theo công thức C đã học.
Khoảng cuối tháng 11/2024, biết K có pháo nổ bán, nên anh Phạm Văn T2 (sinh năm 2004; trú tại thôn F, xã H, thành phố M) hỏi K mua 03 quả pháo nổ về đốt. K đồng ý và thống nhất giá 30.000 đồng/1 quả, rồi đến nhà C lấy 03 quả pháo loại nhỏ mang đến điểm hẹn giao cho anh T2 và nhận của anh T2 số tiền 90.000 đồng. Sau đó, anh T2 mang pháo đến khu bãi đất trống, vắng người ở thôn F, xã H đốt hết. Trong lúc đốt pháo, anh T2 được một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) đến hỏi mua pháo ở đâu giúp liên hệ để anh ta mua pháo. Anh T2 lấy điện thoại gọi điện cho K rồi đưa cho anh ta để tự giao dịch với K. K thống nhất bán cho anh ta 03 quả pháo loại nhỏ với giá 100.000 đồng, địa điểm giao dịch tại khu vực cầu P thuộc thôn E, xã Q, thành phố M. Sau đó, K đến nhà C lấy 03 quả pháo nhỏ mang đến điểm hẹn bán cho anh ta được 100.000 đồng. Nhận được pháo, anh ta này xin số điện thoại của K để liên hệ mua pháo khi cần.
Khoảng 4 ngày sau, người đàn ông này gọi vào số điện thoại 0347.643.xxx của K đặt mua 50 quả pháo nổ tự chế, trong đó: 34 quả pháo loại to và 16 quả loại nhỏ. K đồng ý và thống nhất giá quả pháo loại to là 110.000 đồng/quả, loại nhỏ là 30.000 đồng/quả và hẹn giao dịch vào ngày 09/01/2025 cũng tại khu vực cầu P như lần trước. Sau đó, K thông báo cho C biết và hàng ngày đến nhà C giúp C chế tạo pháo. Khi chế tạo được quả pháo nào, thì K mang về cất giấu tại chuồng lợn của nhà bà Nguyễn Thị N (là bà ngoại K) ở thôn E, xã Q để chờ khi đủ số lượng thì giao cho anh ta.
Đến khoảng 20 giờ ngày 09/01/2024, người đàn ông trên gọi điện cho K để lấy pháo, nên K và C gom số pháo nổ vừa chế tạo xong và số pháo cất giấu ở nhà bà ngoại K được 49 quả pháo, gồm: 15 quả pháo loại nhỏ và 34 quả pháo loại to. Sau đó, K cho 02 loại pháo vào 02 thùng bìa cát tông, dính băng dính lại rồi cùng C vận chuyển bằng xe máy đến cầu P để bán. Đến nơi, K bảo C điều khiển xe về nhà trước, còn K ở lại chờ giao pháo rồi về sau. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, người đàn ông này đến và yêu cầu K mở thùng cát tông ra để kiểm tra pháo. Khi K đang rạch thùng cát tông đựng pháo, thì bị Tổ công tác của Công an thành phố M đến kiểm tra. Thấy vậy, người đàn ông này bỏ chạy thoát, còn K bị bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 02 thùng cát tông bên trong có: 34 vật hình cầu có đường kính thân là 7cm, đường kính đáy phần đế là 3,6cm và 15 vật hình cầu có đường kính thân là 7cm, đường kính đáy phần đế là 3,2cm; bên ngoài bọc vỏ giấy, một đầu kết nối với dây dẫn bọc xoắn lại bằng nilon, một số vật có dây dẫn được bọc kèm băng dính màu vàng (nghi là pháo nổ tự chế), tổng khối lượng là 7,5kg.
Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Vũ Quang K và nơi ở của bà Nguyễn Thị N tại thôn E, xã Q, thành phố M, nhưng không thu giữ được gì.
Đến 12 giờ ngày 10/01/2025, biết K bị bắt, nên Phạm Quốc C đến công an xã Q đầu thú và khai nhận việc cùng K chế tạo pháo nổ để bán. Đồng thời, C giao nộp 01 điện thoại Iphone 8 Plus, màu hồng, số Imei: 356768087860898, không gắn sim. Tiến hành khám xét nơi ở của Phạm Quốc C tại thôn D, xã Q, thành phố M, thu giữ: thu tại khu vực chuồng lợn gồm: 01 ống gỗ dài 50cm, đường kính 06cm, một đầu có dán băng dính màu đen; 01 cuộn màng bọc thực phẩm dài 50cm; 33 cốc giấy màu trắng; 01 cân tiểu ly không rõ nhãn hiệu; 01 túi nilon bên trong chứa 600g chất bột màu đen nghi là nguyên liệu sản xuất pháo; 01 túi nilon bên trong chứa 89g các hạt màu đen, kích thước không đồng nhất bên ngoài bám dính chất bột màu đen nghi là thuốc pháo nổ; 01 bát bên trong đựng 15 hạt màu đen ghi là thuốc nổ, bên ngoài mỗi hạt đều bám dính chất bột màu đen, tổng khối lượng là 22g; 10 hộp nhựa hình cầu trong suốt, đường kính 04cm; 01 chiếc muôi thủng bằng kim loại dài 35cm và 01 dây cháy chậm màu trắng tự chế (gồm hóa chất, túi nilon, chỉ) dài 23cm.
Tại kết luận giám định số 346/KL-KTHS ngày 14/01/2025 của V Bộ C2 kết luận: 49 vật có phần thân hình cầu bên ngoài bọc vỏ giấy, phần đế làm bằng cốc giấy, một đầu kết nối với dây dẫn bọc xoắn lại bằng ni lông, một số vật có dây dẫn được bọc kèm băng dính màu vàng, kích thước các vật to nhỏ khác nhau (34 vật có đường kính phần thân là 07cm, đường kính đáy phần đế là 3,6cm và 15 vật có đường kính phần thân là 05cm, đường kính đáy phần đế là 3,2cm) đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng pháo nổ là 7,5kg. 01 túi ni lông bên trong chứa chất bột màu đen là bột than (C) khối lượng bột than là 0,6kg, bột than thường dùng làm nguyên liệu để sản xuất pháo nổ. 01 túi nilon bên trong chứa nhiều hạt màu đen, kích thước không đồng nhất, bên ngoài các hạt có dính bột màu đen là thuốc pháo nổ, khối lượng là 89 gam. 15 hạt màu đen kích thước không đồng nhất, bên ngoài các hạt có dính bột đen đều là thuốc pháo nổ, tổng khối lượng là 22 gam. 01
dây cháy chậm màu trắng có chiều dài 23cm, là dây ngòi pháo, bên trong có chứa thuốc pháo nổ.
Tại Cơ quan điều tra, các bị can Vũ Quang K và Phạm Quốc C khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Ngoài ra, K và C còn khai: quá trình sản xuất pháo và cất giấu pháo đều vào thời điểm bố, mẹ C và bà Nguyễn Thị N không có nhà, nên họ không biết việc C và K sản xuất pháo nổ trái phép.
Về xử lý vật chứng: đối với số pháo nổ, thuốc pháo, bột than, dây cháy chậm tự chế thu giữ trong vụ án, Cơ quan giám định đã sử dụng hết. Các vật chứng còn lại gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, vỏ màu hồng, số Imei: 356768087860898, không gắn sim, đã qua sử dụng; 33 cốc giấy màu trắng; 10 hộp nhựa hình cầu trong suốt đường kính 4cm; 01 muôi thủng kim loại chiều dài 35cm; 02 thùng bìa cát tông không còn nguyên vẹn, bên ngoài có dán nhiều lớp băng dính, Cơ quan điều tra đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái để chờ xử lý theo quy định.
Bản Cáo trạng số: 1298/CT-VKSMC ngày 05/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Vũ Quang K và Phạm Quốc C về tội “sản xuất, buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và quá trình điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị với Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Quang K từ 18 (mười tám) tháng đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù, về tội “sản xuất, buôn bán hàng cấm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 09/01/2025.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 91 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt bị cáo Phạm Quốc C từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án, về tội “sản xuất, buôn bán hàng cấm”.
Giao bị cáo Phạm Quốc C cho Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố M giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng, xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 33 cốc giấy màu trắng; 10 hộp nhựa hình cầu trong suốt đường kính 4cm; 01 ống dạng gỗ, 01 cuộn màng bọc thực phẩm; 01 cân tiểu ly, 01 muôi thủng kim loại chiều dài 35cm; 02 thùng bìa cát tông. Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, vỏ màu hồng, số Imei: 356768087860898, không gắn sim. Truy thu của bị cáo Vũ Quang K số tiền 190.000₫ sung ngân sách, được trừ vào số tiền 190.000đ gia đình bị cáo đã nộp vào Chi cục thi hành dân sự thành phố M.
Các bị cáo Vũ Quang K và Phạm Quốc C không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.
Người bào chữa đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Quốc C không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo C hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội. Đánh giá các lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; lời khai của người làm chứng; người chứng kiến; Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 09/01/2025; Biên bản khám xét ngày 10/01/2025; các bản ảnh hiện trường; sơ đồ hiện trường; Biên bản xác định hiện trường kèm theo các bản ảnh; các biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ; Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 10/01/2024; Kết luận giám định số 346/KL-KTHS ngày 14/01/2025 của V Bộ C2; Kết luận số 340/KL-KTHS ngày 05/4/2025 của phòng K1 Công an tỉnh Q và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: khoảng từ cuối tháng 11/2024 đến ngày 09/01/2025, tại thôn D, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Quang K và Phạm Quốc C đã sản xuất trái phép 7,5 kg pháo nổ (pháo hoa nổ) với mục đích mang bán để kiếm lời, thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội: “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo Vũ Quang K, Phạm Quốc C là nguy hiểm cho xã hội, bởi hành vi đó không những xâm phạm đến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Vì pháo nổ là một trong những nguyên nhân có thể gây ra cháy nổ dẫn đến thương tích hoặc chết người, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, gây tổn thất về kinh tế và làm ô nhiễm môi trường sống. Chính vì lẽ đó, Nhà nước ta đã có quy định cấm sản xuất, kinh doanh và đốt pháo nổ.
Mặc dù các bị cáo thực hiện hai hành vi là sản xuất và bán hàng cấm là pháo nổ nhưng các hành vi này kế tiếp và có mối liên hệ mật thiết với nhau, hành vi sản xuất là điều kiện cho hành vi bán, hành vi bán là hệ quả tất yếu của hành vi sản xuất. Vì vậy, việc các bị cáo sản xuất 7,5kg pháo nổ và bị bắt quả tang khi đem pháo nổ đi bán thì hành vi của các bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội danh đầy đủ “sản xuất, buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 điều 190 Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng số 1298/CT-VKSMC ngày 05/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với các bị cáo và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tại phiên toà là có căn cứ pháp lý, được chấp nhận.
[3] Các bị cáo đều là người có đủ nhận thức và điều khiển được hành vi của mình, biết rõ tác hại của pháo nổ cũng như sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hành vi vận chuyển, buôn bán, tàng trữ và đốt pháo nổ. Nhưng do hám lợi và ý thức chấp hành pháp luật kém, nên các bị cáo đã tự tìm hiểu cách chế tạo pháo để mang đi bán kiếm lời. Kết quả từ khoảng cuối tháng 11/2024 đến ngày 09/01/2025, tại thôn D, xã Q, thành phố M, các bị cáo đã sản xuất trái phép 7,5 kg pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi các bị cáo mang số pháo trên đi bán, thì bị phát hiện bắt giữ. Qua đó cho thấy sự liều lĩnh và ý thức coi thường pháp luật của các bị cáo. Bởi hành vi của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với pháo nổ các loại, ảnh hưởng đến trật tự công công mà còn tạo điều kiện cho các đối tượng khác mua bán và sử dụng trái phép pháo nổ. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo, nhằm giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Xét vai trò của các bị cáo thấy: đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo K là người khởi xướng rủ bị cáo C cùng chế tạo pháo nổ để bán kiếm lời, C là người trực tiếp chế tạo pháo nổ, còn K tìm người mua, nên K giữ vai trò chính và phải chịu mức hình phạt cao nhất. Bị cáo C là người trực tiếp chế tạo pháo nổ, nên vai trò sau bị cáo K.
Bị cáo Phạm Quốc C phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng quy định của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
[5] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: hành vi của các bị cáo Vũ Quang K và Phạm Quốc C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với một số loại hàng cấm, trong đó có pháo nổ. Như chúng ta đều biết việc sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, mua bán và đốt pháo không chỉ gây tổn thất về kinh tế mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại đến sức khỏe, tính
mạng con người, ảnh hưởng đến môi trường và trật tự trị an, an toàn xã hội. Vì vậy, mọi hành vi xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến việc quản lý, sử dụng pháo tùy theo tính chất mức độ đều bị xử lý theo quy định. Do đó, cần xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.
[6] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo K có hành vi xúi giục Phạm Quốc C phạm tội nên bị cáo K phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội”, theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo C sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo K đã nộp số tiền thu lợi bất chính nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: cần cách ly bị cáo Vũ Quang K ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện, có ích cho xã hội, mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Đối với bị cáo Phạm Quốc C, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, mặt khác bị cáo Phạm Quốc C khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, đang theo học phổ thông, đang chuẩn bị thi tốt nghiệp THPT, nên phần nào ảnh hưởng đến nhận thức, vì vậy cần áp dụng các quy định về người dưới 18 tuổi, cũng như Luật Tư pháp người chưa thành niên, để quyết định hình phạt cho phù hợp và thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương phối hợp với gia đình bị cáo giám sát, giáo dục là phù hợp. Qua đó, để các bị cáo thấy được tính nhân đạo của Pháp luật Nhà nước ta mà cải tạo tốt, sớm trở thành công dân tốt sau này. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
- Về hình phạt bổ sung: bị cáo C là học sinh, bị cáo K là lao động tự do không có việc làm và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Số tiền 190.000₫ (một trăm chín mươi nghìn đồng) là tiền thu lợi bất chính của bị cáo K có được từ việc bán pháo nổ nên cần truy thu sung ngân sách Nhà nước. Bị cáo K đã nộp.
- Đối với số pháo nổ, thuốc pháo, bột than, dây cháy chậm tự chế thu giữ trong vụ án, Cơ quan giám định đã sử dụng hết, nên Hội đồng xét xử không đề cập.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, vỏ màu hồng, số Imei: 356768087860898, không gắn sim, đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo C dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- 33 cốc giấy màu trắng; 10 hộp nhựa hình cầu trong suốt đường kính 4cm; 01 muôi thủng kim loại chiều dài 35cm; 02 thùng bìa cát tông không còn nguyên vẹn, bên ngoài có dán nhiều lớp băng dính là công cụ dùng vào việc phạm tội, xét thấy không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu, tiêu hủy.
[8] Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người bào chữa đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Quốc C có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[10] Liên quan trong vụ án có người đàn ông đã đặt mua pháo của K và C, tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ, nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với việc Phạm Văn T2 đã mua 03 quả pháo nổ của K và C, do T2 đã sử dụng hết, không thu được vật chứng, nên không có căn cứ để xử lý. Đối với ông Phạm Văn T1, bà Hà Thị B và Nguyễn Thị N, không biết việc K và C sản xuất, tàng trữ trái phép pháo nổ, nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Quang K 16 (mười sáu) tháng tù, về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025.
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt bị cáo Phạm Quốc C 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.
Giao bị cáo Phạm Quốc C cho Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T4 hoãn xuất cảnh đã áp dụng đối với bị cáo Phạm Quốc C theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 29/2025/HSST-LCCC ngày 14/5/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 61/QĐ-TA ngày 14/5/2025 của Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
3. Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Truy thu của bị cáo Vũ Quang K số tiền 190.000đ (một trăm chín mươi nghìn đồng) sung ngân sách Nhà nước (bị cáo K đã nộp đủ số tiền 190.000₫ theo biên lai thu tiền số 0001593 ngày 29/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh).
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước của Phạm Quốc C: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, vỏ màu hồng, số Imei: 356768087860898, không gắn sim, đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy: 33 cốc giấy màu trắng; 10 hộp nhựa hình cầu trong suốt đường kính 4cm; 01 muôi thủng kim loại chiều dài 35cm; 02 thùng bìa cát tông không còn nguyên vẹn, bên ngoài có dán nhiều lớp băng dính.
(Vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 92/2025/THA, ngày 09/5/2025).
4. Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Vũ Quang K và Phạm Quốc C mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo, người bào chữa đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Quốc C có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Đức Thanh |
Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về sản xuất, buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 58/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sản xuất, buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Quang Khánh CĐP- sản xuất buôn bán hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 190
