Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 58/2025/HS-ST

Ngày: 27-6-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Đê

Bà Nguyễn Thị Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố

Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa -

Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Kim Thoa – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2025/TLST-HS ngày 10/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HS ngày 12/6/2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 17/TB-TA ngày 20/6/2025, đối với các bị cáo:

1. Đỗ Thị V, tên gọi khác: Không, sinh năm 1953 tại Nam Định; Hộ khẩu thường trú: Tổ F, khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn M (Chết), con bà Trần Thị C (Chết); Bị cáo có chồng là Trần Văn T1, sinh năm 1951 (Chết) và 04 con (con lớn nhất sinh năm 1981, con nhỏ nhất sinh năm 1987); Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

2. Trần Thị T2, tên gọi khác: Không, sinh năm 1981 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, thị xã P (nay là phường T, thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T1, sinh năm 1951 (Chết), con bà Đỗ Thị V, sinh năm: 1953; Bị cáo có chồng là Bùi Đức L, sinh năm 1980 và 01 con sinh năm 2006. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1

1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Thị V là mẹ ruột của Trần Thị T2. Vóc mở một tiệm tạp hóa tại nhà ở của mình tại tổ F, khu phố K, phường K, thành phố B. Do cần tiền tiêu xài và tại tiệm tạp hóa có khách đến mua hàng nhiều nên V và T2 thỏa thuận với nhau bán số đề cho khách để kiếm thêm thu nhập ngay tại tiệm tạp hóa của mình và bắt đầu thực hiện việc ghi (bán) số đề từ tháng 11/2024 đến khi bị bắt. Hàng ngày trong khoảng thời gian từ 13 giờ đến 15 giờ, Vóc ghi số đề cho khách, các số đề do khách đánh được V ghi vào 01 cuốn tập học sinh, đến khoảng 15 giờ cùng ngày, V sử dụng ứng dụng Messenger tài khoản của mình tên “Đô Thị V” gửi hình chụp các số đề được ghi trong từng trang giấy của quyển tập đến tài khoản của T2 tên “Trần T2”, đến sáng ngày hôm sau T2 sẽ đến tiệm tạp hóa để giao nhận tiền ghi số đề và đưa tiền trúng cho V để giao cho khách trúng.

Hình thức V và T2 ghi (bán) số đề gồm:

  • - Đối với số đề đặt cược hình thức đầu đuôi: Ghi ba số liền kề nhau, trong đó số đầu tiên là số tiền đặt cược đầu, số ở giữa là số đề, số tiếp theo là số tiền đặt cược đuôi. Số tiền đánh bạc đầu đuôi tính theo pháp luật là tổng số tiền đặt cược đầu và đặt cược đuôi. Số tiền thực tế người đánh đề phải đưa là số tiền đặt cược nhân với 80%. Đối với hình thức đầu đuôi một số hai chữ số: đối chiếu với kết quả xổ số của đài đặt cược, nếu hai số của giải tám trùng với số đề thì trúng, nếu hai số cuối của giải đặc biệt trùng với số đề thì trúng, số tiền thắng bằng số tiền đánh đề nhân với 70 lần, nếu cùng trùng cả giải tám và giải đặc biệt thì số tiền thắng nhân với 70 lần và nhân tiếp 2 lần.
  • - Đối với số đề đặt cược hình thức bao lô: Ghi hai số liền kề nhau, số thứ nhất là số đề, số còn lại là số tiền đặt cược. Số tiền đánh bạc bao lô tính theo pháp luật là số tiền đặt cược nhân với 18 lần. Số tiền đánh bạc bao lô thực tế người đánh đề phải đưa là số tiền đặt cược nhân với 13 lần (trừ tiền hoa hồng). Đối với hình thức bao lô hai chữ số: nếu số đề trùng với hai chữ số một trong 18 giải đài đặt cược thì số tiền thắng bằng số tiền đặt cược nhân với 70 lần, nếu trùng nhiều hơn một giải trong 18 giải bao nhiêu lần thì số tiền thắng được là số tiền đặt cược nhân với 70 và nhân với số lần trùng. Đối với hình thức bao lô ba chữ số cũng tương tự như bao lô hai chữ số về tỉ lệ tiền thắng cược: số tiền đặt cược nhân với 500 lần và nhân với số lần trùng, kết quả đối chiếu ba chữ số cuối của một trong 17 giải đài đặt cược (vì giải tám chỉ có 2 chữ số nên không đối chiếu với giải tám).
  • - Đối với số đề đặt cược hình thức đá: Ghi chữ “đ” trước ba số liền kề nhau, “đ” có nghĩa là ký hiệu hình thức đánh đề đá, hai số tiếp theo là số đề, số cuối là số tiền đặt cược. Số tiền đánh bạc đá tính theo pháp luật là số tiền đặt

2

cược nhân với 36 lần. Số tiền đánh bạc thực tế người đánh đề phải đưa là số tiền đặt cược nhân với 26 lần. Đối với hình thức đá hai cặp số: nếu trong các giải của 18 giải đài đặt cược có hai giải có hai chữ số cuối trùng với hai số đề thì trúng, số tiền thắng bằng số tiền đặt cược nhân với 500 lần và nhân với số lần trùng cặp số nếu kết quả có nhiều hơn một cặp kết quả trùng.

  • - Đối với hình thức đánh đề xiên: Ghi chữ “x” trước các số đề đặt cược (có thể là hai số, ba số, bốn số...), tiếp theo là số tiền đặt cược. Số tiền đánh bạc xiên tính theo pháp luật bằng số tiền nhân với 18 (18 giải), nhân với 2 (hai đài), nhân với số lượng số đề (2,3 hoặc 4...), nhân với 2 (tổ hợp cặp số đề để đối chiếu kết quả). Số tiền đánh bạc thực tế người đánh bạc phải đưa là bằng số tiền đặt cược nhân với 13, nhân với 2, nhân với 2. Đối với hình thức xiên: nếu trong các giải của 18 giải đài đặt cược và 18 giải đài phụ thứ nhất có hai giải có hai chữ số cuối trùng với hai số đề thì trúng, số tiền thắng bằng số tiền đánh đề nhân với 500 lần và nhân với số lần trùng nếu có nhiều hơn kết quả trùng.
  • - Đối với hình thức đánh đề xỉu chủ: Ghi chữ “cũ” trước số đề (3 chữ số) và số tiền đặt cược. Số tiền đánh bạc tính theo pháp luật bằng số tiền đặt cược nhân 2 lần, nhân với số lượng số đề. Số tiền thực tế người đánh đề phải đưa bằng số tiền đặt cược nhân 2 lần, nhân với số lượng số đề. Đối với hình thức xỉu chủ: đối chiếu với kết quả xổ số giải bảy và giải đặc biệt của đài chính, nếu ba chữ số cuối trùng với số đề thì trúng, số tiền thắng bằng số tiền đặt cược nhân với 500 lần, nếu trùng cả giải bảy và giải đặc biệt thì nhân thêm 02 lần..

Các hình thức nêu trên đều dựa theo kết quả xổ số kiến thiết hàng ngày của từng đài M1 để làm cơ sở chi trả khi có người trúng thưởng. Đến khoảng 16 giờ 45 phút ngày 19/01/2025, công an phường K, TP . tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang V có hành vi ghi số đề tại tiệm tạp hóa và thu giữ tang vật chứng.

Quá trình điều tra xác định, vào các ngày 15, 16, 17 và 19/01/2025, số tiền đánh bạc bằng hình thức ghi số đề của V và T2 như sau:

  • - Ngày 15/01/2025: Số tiền đánh bạc mà những người đánh đề trong ngày đặt cược tính theo pháp luật là: 9.392.000 đồng, số tiền những người đánh đề trong ngày trúng được là 1.610.000 đồng, số tiền thực tế người đánh đề phải trả là 7.842.800 đồng. Như vậy, tổng tiền đánh bạc ngày 15/01/2025 của T2, V bằng hình thức ghi số đề là: 9.392.000 đồng + 1.610.000 đồng = 11.002.000 đồng.
  • - Ngày 16/01/2025: Số tiền đánh bạc mà những người đánh đề trong ngày đặt cược tính theo pháp luật là: 12.350.000 đồng, số tiền những người đánh đề trong ngày trúng được là 8.100.000 đồng, số tiền thực tế người đánh đề phải trả là 9.142.200 đồng. Như vậy, tổng tiền đánh bạc ngày 16/01/2025 của T2, V bằng hình thức ghi số đề là: 12.350.000 đồng + 8.100.000 đồng = 20.450.000 đồng.
  • - Ngày 17/01/2025: Số tiền đánh bạc mà những người đánh đề trong ngày đặt cược tính theo pháp luật là: 5.453.000 đồng, số tiền những người đánh đề trong ngày trúng được là 1.400.000 đồng, số tiền thực tế người đánh đề phải trả

3

là 4.084.800 đồng. Như vậy, tổng tiền đánh bạc ngày 17/01/2025 của T2, V bằng hình thức ghi số đề là: 5.453.000 đồng + 1.400.000 đồng = 6.853.000 đồng.

  • - Ngày 19/01/2025: Số tiền đánh bạc mà những người đánh đề trong ngày đặt cược tính theo pháp luật là: 10.824.000 đồng, số tiền những người đánh đề trong ngày trúng được là 3.550.000 đồng, số tiền thực tế người đánh đề phải trả là 7.975.600 đồng. Như vậy, tổng tiền đánh bạc ngày 19/01/2025 của T2, V bằng hình thức ghi số đề là: 10.824.000 đồng + 3.550.000 đồng = 14.374.000 đồng. Ngày 19/01/2025, V đã bán số đề với hình thức đầu đuôi số 71 và 94 cho Nguyễn Thị N với số tiền 24.000 đồng

Ngoài ra, trong quyền tập thu của V còn có các nội dung sau:

  • - Mặt trong thứ nhất trang bìa, mặt trong thứ hai trang bìa và trang giấy thứ năm của quyển tập có các chữ ký tự nội dung là tiền hàng Vóc ghi với các khách hàng thiếu nợ tiền hàng trong thời gian nào V không nhớ cụ thể, V không rõ tên, tuổi, địa chỉ của các khách hàng trên; T3 giấy thứ tư của quyển tập: Số tiền đánh bạc mà V đánh đề trong ngày tính theo pháp luật là: 743.000 đồng; T3 giấy thứ mười bốn của quyển tập: Số tiền đánh bạc mà V đánh đề trong ngày tính theo pháp luật là: 3.210.000 đồng; T3 giấy thứ mười lăm của quyển tập: Số tiền đánh bạc mà V đánh đề trong ngày tính theo pháp luật là: 1.413.000 đồng; T3 giấy thứ mười sáu của quyển tập: Số tiền đánh bạc mà V đánh đề trong ngày tính theo pháp luật là: 1.965.000 đồng. Qua làm việc, V không nhớ các ngày ghi đề đối với các số đề trong các trang giấy trên, mỗi trang giấy ghi đề một ngày, không nhớ đã nhận ghi đề đối với những người chơi nào. Trần Thị T2 không nhớ các số đề trên Vóc có chụp hình gửi cho T2 hay không, T2 không xác định ngày ghi đề của các số đề trên.

Tại Kết luận giám định số 573/KL-KTHS ngày 06/03/2025 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C1 tại TP Hồ Chí Minh đối với điện thoại iPhone XS Max (điện thoại của Đỗ Thị V), kết luận: trích xuất toàn bộ dữ liệu tin nhắn trong ứng dụng Zalo, ứng dụng Messenger từ ngày 01/11/2024 đến 19/01/2025 (được lưu trữ trong thiết bị lưu trữ kèm theo), không phục hồi được dữ liệu tin nhắn SMS đồng thời điện thoại di động của Trần Thị T2 cũng không thu giữ được. Do đó, không đủ cơ sở để xác định được cụ thể ngày đánh bạc (ghi đề) và số tiền đánh bạc của từng ngày để xử lý theo qui định của pháp luật.

Việc thu giữ và xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ của Đỗ Thị V: 01 quyển tập học sinh 15,5 x 20,5 cm; 01 điện thoại iPhone Xs Max, số I: 357274095927208; Tiền mặt 8.170.000 đồng, trong đó tiền đánh bạc trong ngày là 7.975.600 đồng, tiền bán tạp hóa là 194.400 đồng. Thu giữ của bà Nguyễn Thị N 01 điện thoại iPhone 8 Plus, số I: 356111097590165. (Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đã chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự bảo quản, chờ xử lý).

Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSBR ngày 09/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố các bị cáo Đỗ Thị V, Trần Thị T2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

4

Tại phiên tòa hôm nay, trên cơ sở việc xét hỏi và tranh luận công khai: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Đỗ Thị V, Trần Thị T2 về tội “Đánh bạc” và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, o khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị V từ 30 đến 40 triệu đồng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị T2 từ 40 đến 50 triệu đồng.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị lưu chứng cứ tại hồ sơ là 01 quyển tập học sinh (ghi đề); tịch thu sung công 02 chiếc điện thoại; Tịch thu sung công số tiền 7.975.000 đồng, trả lại cho bị cáo V số tiền 194.400 đồng là tiền cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • Ý kiến của các bị cáo và lời nói sau cùng: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề đạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt tiền để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và đã được công bố tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận:

Đỗ Thị V là mẹ ruột của Trần Thị T2, do bị cáo V bán tạp hóa tại nhà riêng thuộc tổ F, khu phố K, phường K, thành phố B có thời gian và điều kiện ghi số đề cho khách hàng nên V cùng T2 thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số đề để thu lợi bất chính. Vóc là người trực tiếp ghi đề cho khách tại nhà sau đó chuyển toàn bộ nội dung ghi đề cho T2 qua ứng dụng tin nhắn Facebook. Trong các ngày 15/01/2025, 16/01/2025, 17/01/2025 và ngày 19/01/2025, V và T2 ghi số đề thắng thua bằng tiền với số tiền đánh bạc trong các ngày lần lượt là 11.002.000 đồng, 20.450.000 đồng, 6.853.000 đồng và 14.374.000 đồng.

Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này

5

hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Đỗ Thị V, Trần Thị T2 thực hiện đã cấu thành tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, chỉ vì hám lợi và muốn ăn thua với nhau bằng tiền thông qua việc ghi số đề để hưởng lợi mà không lường được hậu quả của hành vi nên phạm tội, hành vi đó phải bị xử lý và có một hình phạt đủ sức răn đe đối với các bị cáo để giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này có đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Để có cơ sở quyết định hình phạt cần xem xét tính chất, mức độ tham gia của từng bị cáo: Bị cáo Đỗ Thị V khi phạm tội là người trên 70 tuổi, bản thân có nghề nghiệp buôn bán tại gia đình, đáng lẽ bị cáo làm ăn kinh doanh để có đồng tiền chân chính thì lại lợi dụng địa điểm này khi Trần Thị T2 (là con ruột) bàn bạc để ghi số đề dựa trên kết quả xổ số các tỉnh Miền Nam xổ số hàng ngày để ăn thua với nhau; Bị cáo T2 là người yêu cầu V trực tiếp ghi cho khách, thu tiền và chuyển kết quả cho T2 để hưởng lợi nên bị cáo T2 phải chịu trách nhiệm với vai trò cao hơn.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội hai lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” theo điểm g khoản 1 Điều 52.

Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét các tình tiết như trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự; chưa vi phạm pháp luật tại địa phương; thực hiện hành vi trong một thời gian ngắn thì bị phát hiện và ngăn ngừa; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Đỗ Thị V khi phạm tội là người cao tuổi (trên 70 tuổi); các bị cáo là thành phần lao động, thực hiện hành vi nhất thời, sau khi phạm tội các bị cáo đều hợp tác với cơ quan điều tra, luôn hối cải về hành vi đã thực hiện. Hoàn cảnh gia đình: Bị cáo V và T2 có mối quan hệ là mẹ và con ruột, vì vậy khi lượng hình cần xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được và áp dụng điểm s, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo V; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T2 để giảm nhẹ một phần hình phạt. Xét thấy trường hợp này áp dụng hình phạt chính là phạt tiền để sung quỹ nhà nước cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục cảnh tỉnh và tạo điều kiện để các bị cáo được lao động, chăm sóc gia đình và sửa chữa lỗi lầm của mình.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 quyển tập học sinh (ghi đề) là chứng cứ của vụ án cần lưu hồ sơ vụ án; Đối với 02 chiếc điện thoại và số tiền

6

7.975.600 đồng cần tịch thu sung công; Số tiền 194.400 đồng là tiền cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo V.

[7] Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Thị N, ngày 19/01/2025 có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số đề của Vóc với số tiền đánh bạc 24.000 đồng. Bản thân bà N chưa có tiền án tiền sự về hành vi đánh bạc nên hành vi này chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo qui định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 350.000 đồng là đúng quy định.

[8] Các bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Thị V, Trần Thị T2 phạm tội "Đánh bạc".

1. Căn cứ điểm khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, o khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị V 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

2. Căn cứ điểm khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trần Thị T2 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự:

  • - Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại iPhone Xs Max, số Imei: 357274095927208; 01 (một) điện thoại iPhone 8 Plus, số I: 356111097590165.
  • (Vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số F, ngày 09/6/2025)
  • - Tịch thu sung công số tiền 7.975.600 đồng (Bảy triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn sáu trăm đồng)
  • - Trả lại cho bị cáo Đỗ Thị V số tiền 194.400 đồng (Một trăm chín mươi bốn nghìn bốn trăm đồng)
  • (Vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa theo Quyết định chuyển vật chứng ngày 09/6/2025)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo

7

Đỗ Thị V, Trần Thị T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm (Người vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết)./.

Nơi nhận:

  • - TAND; VKSND tỉnh BRVT;
  • - VKSND thành phố Bà Rịa;
  • - Công an thành phố Bà Rịa;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh BRVT;
  • - THADS thành phố Bà Rịa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo; người tham gia tô tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lê Hoàng Anh

8

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 58/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị V, Trần Thị T phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger