Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HS-ST

Ngày: 26-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Huỳnh Thị Hồng Thắm

Bà Trương Thị Bích Vân

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hải D - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Lê Hiệp T (tên thường gọi T1), sinh năm 1986; tại: TP .; số CCCD: [...], cấp ngày 13/01/2022, nơi cấp: Cục C – Bộ C1; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ C, Ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Hiệp H (chết) và bà: Võ Thị N, sinh năm: 1960; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

  • + Ngày 04/9/2003, bị Ủy ban nhân dân Thành phố H quyết định đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi gây rối trật tự công cộng theo Quyết định số 2539/QĐ. Chấp hành xong ngày 01/01/2005. (Bút lục 106)
  • + Ngày 30/8/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo Bản án hình sự sơ thẩm số 104/2006/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/6/2009, đã chấp hành án phí. (Bút lục 104, 111)
  • + Ngày 09/3/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một xử phạt 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2010/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/6/2016, đã chấp hành án phí. (Bút lục 105, 109)

Bị bắt tạm giam từ ngày 13/6/2024 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hiệp T là người nghiện ma túy từ năm 2003 và bị nhiễm HIV. Vào khoảng 08 giờ ngày 12/6/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xám - đen, biển số 67D1-021.00 đến khu vực cầu R, thuộc xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy thì được một người nam (hiện chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch) bán cho T 03 liều đựng trong 03 đoạn ống hút bằng nhựa, gồm: 01 đoạn ống hút màu đỏ (chứa ma túy, loại Methamphetamine), 01 đoạn ống hút màu xanh và 01 đoạn ống hút màu vàng (đều chứa ma túy, loại Heroine) với số tiền 600.000 đồng. T để ma túy vừa mua được vào trong 01 túi da nhỏ rồi cất giấu vào trong túi quần và điều khiển xe mô tô biển số 67D1-021.00 đi về nhà.

Sau đó, khoảng 08 giờ ngày 13/6/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 67D1-021.00 đi từ nhà đến khu vực cầu R tiếp tục mua ma túy của người đã bán ma túy cho T vào ngày 12/6/2024, 03 liều đựng trong 03 đoạn ống hút bằng nhựa, gồm: 02 đoạn ống hút màu xanh và 01 đoạn ống hút màu vàng (đều chứa ma túy loại Heroine) với số tiền 600.000 đồng. T để ma túy vừa mua được cùng với số ma túy đã mua vào ngày 12/6/2024 trong túi da nhỏ, bỏ vào túi quần bên phải phía trước và điều khiển xe mô tô biển số 67D1-021.00 đi đến Trung tâm y tế huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để lấy thuốc ARV (thuốc cho người bị bệnh HIV) rồi sau đó trở về nhà. Đến khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày 13/6/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 67D1-021.00 mang theo ma túy mua được đi từ nhà đến Siêu thị C gần Bến xe B để làm việc phụ giúp gia đình. Khi đi đến đường N, đoạn gần Công viên Miếu T, thuộc Tổ H, Khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị Công an phường P đang tuần tra kiểm soát an ninh, trật tự trên địa bàn (theo Kế hoạch số 32/KH-CAP ngày 08/6/2024 của Công an phường P) phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu T dừng xe lại kiểm tra hành chính. T đã tự nguyện lấy từ trong túi quần bên phải phía trước ra 01 túi da màu nâu, bên trong có 06 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu giao nộp cho lực lượng công an và khai nhận bên trong 06 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu là ma túy, loại heroine và methamphetamine nên Công an phường P lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng, gồm: 03 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu, màu xanh và 02 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu, màu vàng, bên trong chứa chất màu trắng, nghi là ma túy heroine (được niêm phong theo quy định); 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu, màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy loại methamphetamine (được niêm phong theo quy định); 01 túi da màu nâu; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xám – đen, gắn biển số 67D1-021.00, số khung RLCUE3704KY006129, số máy E32VE011180. Cùng ngày 13/6/2024, Công an phường P chuyển hồ sơ vụ việc, đối tượng Lê Hiệp T và vật chứng nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để tiếp nhận, giải quyết theo thẩm quyền.

Theo Kết luận giám định số 2870/KL-KTHS(MT) ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: 01 bì thư được niêm phong bên ngoài có chữ ký của cán bộ niêm phong Lê Khắc T2, chữ ký người chứng kiến Lê Anh D1, chữ ký người bị bắt Lê Hiệp T và hình dấu tròn đỏ của Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bên trong bì thư có:

  • - 03 đoạn ống hút nhựa màu xanh (M1) và 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng (M2) đều chứa chất màu trắng là ma túy, loại heroine, tổng khối lượng là 0,4708 gam (M1 = 0,2676 gam, M2 = 0,2032 gam).
  • - 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ chứa tinh thể màu trắng là ma túy, loại methamphetamine, khối lượng 0,1127 gam (M3). (Bút lục 13)

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xám - đen, số khung RLCUE3704KY006129, số máy E32VE011180, không có biển số là của bà Phạm Thị Kim T3, sinh năm 1979, thường trú tại ấp C, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang đăng ký chủ sở hữu nhưng giao cho con gái là chị Nguyễn Kim T4, sinh năm 1998, thường trú tại ấp C, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang quản lý. Khoảng tháng 6/2023, chị T4 bị mất trộm xe trên tại nhà trọ trên đường D, phường M, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục giữ lại để xác minh, làm rõ và phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo quy định.

Đối với đối tượng nam (hiện chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch) đã 02 lần bán ma túy cho Lê Hiệp T tại khu vực cầu R, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, quá trình điều tra, T khai không biết rõ nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý khi có đủ căn cứ.

Tại Bản Cáo trạng số 45/CT-VKSTDM ngày 28/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Lê Hiệp T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hiệp T mức án từ 06 (sáu) năm tù đến 07 (bảy) năm tù.

Về vật chứng: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong ghi số 2870/PC09, được niêm phong bên ngoài có chữ ký của người chứng kiến Lê Hiệp T, chữ ký cán bộ trả mẫu Huỳnh Hoàng H1, chữ ký cán bộ nhận mẫu Nguyễn Nam P và hình dấu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, bên trong bì thư có chứa ma túy loại heroine, khối lượng M1= 0,2060 gam, M2 = 0,1708 gam; loại methamphetamine, khối lượng M3 = 0.0866 gam (là mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 túi da màu nâu và 01 biển số xe mô tô số 67D1-021.00 (không còn giá trị sử dụng),

- Bị cáo Lê Hiệp T thống nhất Cáo trạng và Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; tống đạt đầy đủ, đúng thời hạn các quyết định tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Do đó, Tòa xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hiệp T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Hành vi 02 lần mua, cất giấu khối lượng ma túy, gồm: 0,4708 gam (heroine) và 0,1127 gam (methamphetamine) để sử dụng mà bị cáo T thực hiện đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm việc quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo biết rõ ma túy là độc chất nguy hiểm, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần, sức khỏe của con người, là mầm mống lây lan các căn bệnh truyền nhiễm, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bản thân bị cáo đã từng bị đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi gây rối trật tự công cộng, bị phạt 03 năm 06 tháng tù tội Cố ý gây thương và 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, lẽ ra phải biết ăn năn, hối cải, tu sửa, rèn luyện bản thân, cố gắng lao động, làm việc, sống lành mạnh để trở thành người tốt có ích gia đình và xã hội. Nhưng vì ham chơi, đùa đòi, không chịu tu sửa bản thân nên bị cáo tiếp tục con đường phạm tội.

Hiện nay, ma túy được xem là quốc nạn, nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm hạn chế, loại bỏ dần tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội, Bộ luật Hình sự quy định hình phạt rất nghiêm khắc đối với các tội phạm liên quan đến ma túy. Nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, tình trạng mua bán, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng trái phép chất ma túy hiện nay vẫn đang diễn ra ngày càng phức tạp, liều lĩnh. Để góp phần giảm bớt tình trạng này, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly khỏi xã hội một thời gian dài để trừng trị, giáo dục; đồng thời nhằm đấu tranh, phòng ngừa loại tội phạm này trong xã hội.

  1. [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  2. Về tình tiết giảm nhẹ nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo sau khi phạm tội được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối chiếu về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ, xét thấy mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

  1. [4] Về xử lý vật chứng: 01 phong bì thư niêm phong ghi số 2870/PC09, được niêm phong bên ngoài có chữ ký của người chứng kiến Lê Hiệp T, chữ ký cán bộ trả mẫu Huỳnh Hoàng H1, chữ ký cán bộ nhận mẫu Nguyễn Nam P và hình dấu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, bên trong bì thư có chứa ma túy loại heroine, khối lượng M1= 0,2060 gam, M2 = 0,1708 gam; loại methamphetamine, khối lượng M3 = 0.0866 gam (là mẫu vật hoàn lại sau giám định), là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo T không được phép sử dụng; 01 túi da màu nâu và 01 biển số xe mô tô số 67D1-021.00 không còn giá trị sử dụng, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xám - đen, số khung RLCUE3704KY006129, số máy E32VE011180, không có biển số là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo T; đồng thời liên quan vụ án trộm cắp tài sản tại thành phố B, tỉnh Bình Dương. Do đó, cần tiếp tục giữ lại để xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.

  1. [5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Hiệp T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hiệp T 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 13/6/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong ghi số 2870/PC09, được niêm phong bên ngoài có chữ ký của người chứng kiến Lê Hiệp T, chữ ký cán bộ trả mẫu Huỳnh Hoàng H1, chữ ký cán bộ nhận mẫu Nguyễn Nam P và hình dấu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, bên trong bì thư có chứa ma túy loại heroine, khối lượng M1= 0,2060 gam, M2 = 0,1708 gam; loại methamphetamine, khối lượng M3 = 0.0866 gam (là mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 túi da màu nâu và 01 biển số xe mô tô số 67D1-021.00 (theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 043.25 ngày 21/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một).
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Hiệp T nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP. Thủ Dầu Một;
  • - Phòng PV06-CA tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP.TDM;
  • - Phân trại tạm giam khu vực TP.TDM;
  • - Người TGTT;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 58/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Hiệp T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 1. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hiệp T 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 13/6/2024. 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong ghi số 2870/PC09, được niêm phong bên ngoài có chữ ký của người chứng kiến Lê Hiệp T, chữ ký cán bộ trả mẫu Huỳnh Hoàng H1, chữ ký cán bộ nhận mẫu Nguyễn Nam P và hình dấu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, bên trong bì thư có chứa ma túy loại heroine, khối lượng M1= 0,2060 gam, M2 = 0,1708 gam; loại methamphetamine, khối lượng M3 = 0.0866 gam (là mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 túi da màu nâu và 01 biển số xe mô tô số 67D1-021.00 (theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 043.25 ngày 21/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger