Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 58/2025/HS-ST

Ngày 25/6/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Như Sương

2. Bà Hoàng Mỹ Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thanh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Ngon - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Trương Kiến D; sinh ngày 27/8/1985, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: E Đường A B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Chung V và bà Nguyễn Thị Kim L; tiền án: Không có; tiền sự: Không có. Nhân thân: Ngày 19/3/2008 bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2011, đương nhiên xóa án tích. Ngày 05/10/2010 bị Ủy ban nhân dân Quận F đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy, theo Quyết định số 2771/QĐ-UBND-LĐTBXH. Ngày 06/6/2017 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, theo Quyết định số 100/QĐ-TA; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/02/2025, chuyển sang tạm giam từ ngày 19/02/2025, tại Trại Tạm giam C - Phân trại tạm giam khu vực Quận A; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Trần Võ Mỹ D1; địa chỉ: B Ông Í, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn G; địa chỉ: D L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phùng Thị Ngọc M; địa chỉ: A Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 26 phút, ngày 08/02/2025, đối tượng Trương Kiến D đi bộ từ khách sạn A đến cửa hàng bán bánh mì của bà Trần Võ Mỹ D1 tại địa chỉ số B đường Ô, Phường A, Quận A để mua bánh mì nhưng không thấy người bán. Lúc này, đối tượng D phát hiện điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S20FE màu xanh đen của bà D1, đang cắm dây sạc, để trên kệ trong cửa hàng, không người trong coi, đối tượng D nảy sinh ý định chiếm đoạt nên lén lúc rút dây sạc, lấy điện thoại rồi tẩu thoát.

Sau khi lấy trộm điện thoại, đối tượng D trở về khách sạn A cùng bạn gái tên là Phùng Thị Ngọc M đặt xe G1 đi đến chùa “Pháp Giới” trên đường H, Phường C, Quận A. Tại đây, đối tượng D mượn chiếc xe môtô biển số 59X1-253.63 của cha ruột là ông Chương Trung V1 để đi chơi. Đối tượng D chở bà M đến công viên L, Phường H, Quận A rồi để bà M ở lại. Đối tượng D đem điện vừa lấy trộm được đến tiệm cầm đồ, sửa điện thoại số D L, Phường E, Quận A thuê ông Nguyễn Văn G bẻ khóa điện thoại trên (khi nhờ bẻ khóa, đối tượng D nói điện thoại của vợ quên mật khẩu) với giá 270.000 đồng. Sau đó, đối tượng D quay trở lại công viên để đón bà M nhưng không gặp. Đến tối ngày 08/02/2025, đối tượng D điều khiển xe trở về khách sạn A thì bị Cơ quan Công an mời về làm việc. Đối tượng D đã chỉ nơi bẻ khóa điện thoại. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện thoại trên do ông G giao nộp.

Sau khi bị mất tài sản, bà D1 đã đến Công an P, Quận A trình báo vụ việc.

Tại Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 13/02/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận A1 kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S20FE màu xanh đen trị giá 2.650.000 đồng.

Ngày 10/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với bị can Trương Kiến D về hành vi “Trộm cắp tài sản" để để điều tra. Đến ngày 11/02/2025 thì Công an đã bắt giữ và lập biên bản bắt giữ bị cáo.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, bị can Trương Kiến D thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên. Bị can D thực hiện hành vi trộm cắp tài sản một mình. Bà M không biết gì về sự việc. Lời khai nhận của bị can D phù hợp lời khai của bà M và phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Ngoài ra, bị can Trương Kiến D khai nhận vào chiều ngày 06/02/2025, bị can D liên hệ người đàn ông không rõ lai lịch qua số điện thoại 0921.963.xxx (người này do người bạn tên T không rõ lai lịch giới thiệu cho bị can D) mua 01 gói ma túy (kèm theo ống thủy tình đầu phễu tròn) với giá 200.000 đồng tại hẻm A B, Phường A, Quận A. Sau đó, bị can D cùng bạn gái là bà Phùng Thị Ngọc M đến thuê phòng 302 tại khách sạn A, địa chỉ số A đường Ô, Phường E, Quận A để lưu trú. Tại đây, sau khi bà M đi ra ngoài giặt đồ, bị can D lấy ma túy ra để vào ống thủy tinh, cùng chai nhựa có gắn ống hút nhựa trên nắp chai (do bị can D tự làm) sử dụng một mình, rồi bị can D đi ra ngoài. Bà M quay lại phòng không thấy bị can D trong phòng. Bà M thấy dụng cụ sử dụng ma túy nên tự lấy sử dụng. Ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy là của bị can D. Bà M không có hùn tiến cũng không biết bị can D mua ma túy ở đâu. Khi bà M sử dụng ma túy thì bị can D không biết. Lời khai nhận của bị can D và bà M phù hợp với nhau nên chưa đủ căn cứ xử lý bị can D về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Công an Q đã tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với bị can Trương Kiến D các vi phạm: Sử dụng trái phép chất ma túy (theo khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP), điều khiển xe mô tô trong cơ thể có chất ma túy (theo điểm c, khoản 9, Điều 8 Nghị định 168/2024/NĐ-CP) và tàng trữ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy (theo điểm c, khoản 2, 2, Điều 23 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP). Đối với xe mô tô biển số 59X1-253.63 do không liên quan đến hành vi phạm tội, Công an P, Quận A đã chuyển đến Công an Q giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý: Một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S20FE màu xanh đen của bà Trần Võ Mỹ D1 bị Trương Kiến D chiếm đoạt, Cơ quan điều tra trả lại cho bà D1.

Vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đang tạm giữ theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1800/LNK-VPCQCSDT(Q11), gồm:

  • Một nón vải màu đen, một áo thun màu xám trước ngực có dòng chữ BURBERRY, một quần đùi màu đen (đây là trang phục bị can D mặc trên người lúc thực hiện hành vi phạm tội.
  • Một bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (gồm một ống thủy tinh đầu phểu tròn, một ống hút nhựa gắn trên nắp chai nhựa). Bị can D dùng sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Lưu hồ sơ vụ án: Một đĩa DVD chứa nội dung ghi lời khai ghi hình có âm thanh; một USB màu đen dung lượng 64 GB chứa dữ liệu hình ảnh bị can Trương Kiến D thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại địa chỉ số B Ông Í, Phường A, Quận A.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Trần Võ Mỹ D1 đã nhận lại tài sản không có yêu gì thêm.

Tại Bản cáo trạng số 71/CT-VKSQ11 ngày 03/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can Trương Kiến D tội danh “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Kiến D có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Bị hại là bà Trần Võ Mỹ D1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn G và bà Phùng Thị Ngọc M vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng như sau:

  • Lưu hồ sơ vụ án một đĩa DVD và một USB màu đen dung lượng 64 GB.
  • Tịch thu tiêu hủy một nón vài màu đen, một áo thun màu xám trước ngực có dòng chữ BURBERRY, một quần đùi màu đen, một bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (gồm một ống thủy tinh đầu phểu tròn, một ống hút nhựa gắn trên nắp chai nhựa).

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào lúc 12 giờ 26 phút ngày 08/02/2025, tại địa chỉ số B Ông Í, Phường A, Quận A, bị cáo Trương Kiến D đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S20FE màu xanh đen của bà Trần Võ Mỹ D1.

Tài sản bị chiếm đoạt có giá trị là 2.650.000 đồng.

Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi, lười lao động bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

[2] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3] Về việc xem xét không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo:

Bị cáo Trương Kiến D làm công, không có thu nhập ổn định nên không đảm bảo khả năng chấp hành án khoản nộp phạt tiền; do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự để phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S20FE màu xanh đen của bà Trần Võ Mỹ D1 bị Trương Kiến D chiếm đoạt, Cơ quan điều tra trả lại cho bà D1; căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên không giải quyết lại.

Đối với vật chứng là một nón vải màu đen, một áo thun màu xám trước ngực có dòng chữ BURBERRY, một quần đùi màu đen, là trang phục bị cáo D mặc trên người lúc thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo không có nhu cầu nhận lại tài sản; vật chứng không còn giá trị sử dụng; căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu tiêu hủy.

Đối với vật chứng là một bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (gồm một ống thủy tinh đầu phểu tròn, một ống hút nhựa gắn trên nắp chai nhựa), là vật cấm tàng trữ; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

Đối với vật chứng là một đĩa DVD chứa nội dung ghi lời khai ghi hình có âm thanh và một USB màu đen dung lượng 64 GB chứa dữ liệu hình ảnh liên quan vụ án; căn cứ khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Q xử lý lưu vào hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là bà Trần Võ Mỹ D1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xem xét trách nhiệm của các đối tượng có liên quan đến vụ án:

Đối với đối tượng Phùng Thị Ngọc M có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an Q đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và lập hồ sơ đưa đi cai nghiện theo Nghị định 116/NĐ-CP của Chính phủ.

Đối với ông Nguyễn Văn G khi nhận sửa điện thoại của bị cáo Trương Kiến D, ông G không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[6] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trương Kiến D, điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí:

Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Trương Kiến D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trương Kiến D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/02/2025.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Lưu vào hồ sơ vụ án một đĩa DVD và một USB màu đen dung lượng 64 GB.

Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là một nón vải màu đen, một áo thun màu xám trước ngực có dòng chữ BURBERRY, một quần đùi màu đen (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1800/LNK-VPCQCSĐT (Q11) ngày 10/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H).

Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là một bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (gồm một ống thủy tinh đầu phểu tròn, một ống hút nhựa gắn trên nắp chai nhựa) (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1800/LNK-VPCQCSĐT (Q11) ngày 10/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND - VKSND TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - PC 27 - CA TPHCM;
  • - Công an TPHCM;
  • - VKSND Q.11;
  • - Chi cục THADS Q.11;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Cơ Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 58/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TCTS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger