Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỦ LÝ

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 58/2025/HS-ST

Ngày 19 - 3 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tuyết Thanh và bà Nguyễn Thị Huê.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Chính - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyên Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức A, sinh năm 1992 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T và bà Trịnh Thị Đ; vợ: Đặng Ngọc L; con: có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt. Bị tạm giữ ngày 12/01/2025 đến ngày 21/01/2025 chuyển tạm tạm cho đến nay. Có mặt.

Người làm chứng: ông Nguyễn Công T - sinh năm 1970; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 12/01/2025, Nguyễn Đức A đi xe khách từ quận D, thành phố Hải Phòng về thành phố P mục đích để tìm việc làm. Khi đến thành phố P, A xuống xe đi bộ đến ngã tư đường L giao nhau với B thì gặp người nam giới khoảng 30 tuổi, A không biết tên, tuổi, địa chỉ. Người này đến gần chỗ A bảo có chơi hàng không, A hiểu ý người này bảo có dùng ma túy không, A bảo mình có chơi hàng ngựa, người đàn ông bảo có mấy con ngựa em chơi thử và đưa cho A một túi nilon màu trắng bên trong có hai viên nén hình tròn màu đỏ, biết đó là ma túy ngựa nên A cầm bỏ vào túi quần bên phải đang mặc, mục đích cất giấu để sử dụng, người đàn ông bỏ đi. Đến khoảng 13 giờ 05 phút cùng ngày tổ công tác Công an phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn phường C. Khi đến ngã tư đường L giao với đường B phát hiện thấy một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Tại chỗ Nguyễn Đức A đã tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 túi nilon màu trắng bên trong có 02 viên nén hình đỏ và khai báo đó là ma túy ngựa, mục đích cất giữ để sử dụng. Lực lượng Công an phường đã đưa Nguyễn Đức A cùng vật chứng về trụ sở lập biên bản phạm tội quả tang theo quy định.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon màu trắng hình chữ nhật có kích thước (7,5 x 4) cm, miệng túi có kẹp nhựa và đường chỉ màu đỏ, bên trong chứa 02 viên nén hình tròn màu đỏ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.

Tại bản kết luận giám định số 53 ngày 17/012025 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: “Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,197g loại Methamphetamine”

Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKS-PL ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Nguyễn Đức A: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Nguyễn Đức A theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến thay đổi. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/01/2025; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và thực hiện quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy cùng bao gói trong phong bì niêm phong hoàn trả sau giám định.

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cơ bản như bản cáo trạng đã mô tả, không tranh luận, bào chữa và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình, xã hội và xin miễn phạt tiền bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến phản đối hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt và công bố lời khai theo quy định của pháp luật.

[3] Đánh giá về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận của cơ quan giám định về ma tuý, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy HĐXX có đủ chứng cứ buộc tội kết luận:

Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 12/01/2025, tại ngã tư giao nhau giữa đường L và đường B, phường C, thành phố P; Nguyễn Đức A đang cất giữ trái phép 0,197 gam ma túy, loại Methamphetamine trong túi quần phía trước bên phải để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Nguyễn Đức A đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[4] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ. tăng nặng, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Phủ Lý, là nguyên nhân trực tiếp phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm nguy hiểm khác gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Cân nhắc nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự HĐXX sẽ xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, cần tuyên mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với chính bị cáo và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong cộng đồng.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng không có mục đích trục lợi, không có tài sản, thu nhập nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Xử lý vật chứng:

Đối với toàn bộ số ma túy Methamphetamine cùng bao gói có trong phong bì niêm phong hoàn trả sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Các vấn đề khác của vụ án:

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, Nguyễn Đức A khai mua của người thanh niên không biết tên tuổi, địa chỉ khoảng 30 tuổi, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phủ Lý đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Ngoài lời khai của A không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ các Điều 106; 135; 136; 331; 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức A 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ 12/01/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2/ Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 53/KTHS. Mặt trước phong bì niêm phong ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam; (Tình trạng, đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 26/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý).

3/ Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Đức An phải nộp: 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành bản án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối Cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND TP Phủ Lý;
  • - Phòng NVHS Công an Tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan THAHS có thẩm quyền;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh Hà Nam;
  • - Chi cục THADS TP Phủ Lý;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(đã ký tên và đóng dấu)

Nguyễn Thị Mai Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 58/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức A tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger